🎃 Câu Chuyện Về Cao Bá Quát
Kể chuyện văn hay chữ tốt theo lời Cao Bá Quát. Kể chuyện. 16/09/2015. Đề bài: Kể lại câu chuyện Văn hay chữ tốt theo lời của Cao Bá Quát 'Tôi yên trí và tin tưởng rằng quan trên sẽ xét nỗi oan cho bà cụ. Nào ngờ, khi bà cụ đem đơn đến, quan không đọc được vì chữ
Thánh Quát (Cao Bá Quát) - Kể Chuyện Cao Bá Quát Cho Bé Nghe#ThánhQuát#CaoBáQuát👍 Các bạn bấm 👉 ĐĂNG KÝ 👉 https://goo.gl/NoXdMc 💖 kênh Truyện Cổ Tích VIỆ
Lần thứ hai, Cao Bá Quát đem quân tấn công huyện lỵ Yên Sơn (nay là thị trấn Quốc Oai) cũng bị thất bại, với khoảng 100 người bị chết trận, 80 người bị bắt. Việt Nam sử lược, trang 648, ghi: “Tháng chạp năm đấy, Phó lãnh binh Sơn Tây là Lê Thuận bắt được Cao Bá
Chuyện ngạo nghễ của Chu Thần Cao Bá Quát Cao Bá Quát là người có tài hay chữ và được tôn là “Thánh Quát”. Tài giỏi nhưng vì quá kiêu căng, ngạo nghễ, cuộc đời ông gặp nhiều gian truân. Cao Bá Quát tự là Chu Thần, hiệu Cúc Đường, biệt hiệu Mẫn Thiên, là người
Cao Bá Quát sinh năm 1809 tại Phú Thị, Gia Lâm (ngoại thành Hà Nội)-mất 1855 (hoặc có thuyết ghi 1808-1857 ?), tự Chu Thần, hiệu Mẫn Hiên. Anh sinh đôi là Cáo Bá Đạt. CBQ sinh sau Nguyễn Du 43 năm (1765-1820), sau Nguyễn Công Trứ 30 năm ( 1778-1858 ). Ông đậu Á nguyên Cử Nhân 1831 tại
Bộ VHTTDL đã ban hành Quyết định số 2589/QĐ-BVHTTDL, cho phép Bảo tàng Hải Phòng phối hợp với Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội và các chuyên gia của Đại học Quốc gia Úc khai quật khảo cổ tại di tích Cái Bèo thuộc thị trấn Cát Bà, huyện Cát Hải, thành phố Hải Phòng.
Cao Bá Quát là ai. Cao Bá Quát (1808 – 1855), trường đoản cú là Chu Thần, hiệu là Cúc Đường, Mẫn Hiên, Cao Chu Thần. Quê ông ngơi nghỉ tại xã Phú Thị, thị trấn Gia Lâm, ni thuộc thủ đô. Sinch ra trong một gia đình công ty nho nghèo bao gồm truyền thống cuội nguồn khoa trường
Danh nhân Cao Bá Quát. VnDoc xin giới thiệu tới các bạn học sinh cùng các bạn bài viết về sự nghiệp và cuộc đời của danh nhân Cao Bá Quát để tìm hiểu và tham khảo giúp các em học sinh lớp 11 hiểu rõ và cuộc đời ông và các tác phẩm nổi tiếng để học tốt môn Ngữ văn.
Phần thì phẫn chí, phần thì thương dân, khoảng cuối năm 1854, Cao Bá Quát tham gia lãnh đạo (tự lãnh chức Quốc sư) cuộc khởi nghĩa ở Mỹ Lương (Sơn Tây), do Lê Duy Cự làm “Minh chủ”. Đang trong quá trình chuẩn bị, thì việc bị bại lộ. Trước cục diện này, Cao Bá Quát
F7a0gln. Từ nhỏ chúng ta đã được biết đến tài năng xuất chúng của Cao Bá Quát qua truyện đọc “Văn hay chữ tốt” hay hình tượng nhân vật Huấn Cao trong “Chữ người tử tù”. Vốn dĩ là thần đồng toàn tài vang danh trời Nam, nhưng bởi tính tình khảng khái, ngạo nghễ, có chút “ngông”, ông có cuộc đời khá gian truân, bị nhiều lần đày ải. Cuối cùng, Cao Bá Quát bị tru di tam tộc, để lại nhiều tiếc nuối và tò mò cho người đời sau. Đôi nét giới thiệu về Cao Bá Quát Cao Bá Quát hay “Thánh Quát sinh năm 1809 tại làng Phú Thị, huyện Gia Lâm, Bắc Ninh nay là Hà Nội. Từ nhỏ, Cao Bá Quát đã vang danh khắp chốn vì trí thông minh và sự tài giỏi, đặc biệt là chữ viết đẹp tựa “rồng bay phượng múa”. Đến nay còn lưu truyền tài năng “văn hay chữ tốt” của ông. Năm 8 tuổi, Cao Bá Quát xuất sắc đáp lại thơ với vua Minh Mạng nên rất được nhà Vua để tâm. Bên cạnh tính cách kiên trì, nhẫn nại luyện chữ ngày đêm, cột tóc lên xà ngang để tránh ngủ gật, Cao Bá Quát còn nổi tiếng bởi tính tình khảng khái, kiêu ngạo và có chút ngông cuồng. Bởi vậy mà ông đã không ít lần thi trượt trên con đường thăng quan tiến chức với hai lần trượt kỳ thi Hương và nhiều lần trượt kỳ thi Hội. Sau này, Cao Bá Quát làm giáo thụ ở phủ Quốc Oai, Sơn Tây. Tuy nhiên, cũng bởi tính cách ngang tàng của mình, danh sĩ đã sớm không được lòng vua và nhiều quan lớn trong triều đình. Đến nửa cuối năm 1854, đầu năm 1855, chứng kiến cảnh người dân khốn cùng với nạn hạn hán, mất mùa, Cao Bá Quát đứng lên lãnh đạo nhân dân phát động khởi nghĩa Mỹ Lương, chống lại sự quản lý của triều đình nhà Nguyễn thời bấy giờ. Bi kịch cuộc đời ông cũng bắt đầu từ đây. Theo nhiều nguồn tin, lý do Cao Bá Quát bị tru di tam tộc là bởi ông đã tham gia chỉ huy quân đội chống lại vương triều nhà Nguyễn. Cụ thể, sau khi đứng lên lãnh đạo khởi nghĩa Mỹ Lương trong vai trò Quốc sư, Cao Bá Quát đã sớm dẫn nghĩa quân thắng các trận ở Thanh Oai và Ứng Hòa, chiếm lại được huyện Kim Bảng. Năm 1855, ông lại tiếp tục lãnh đạo nghĩa quân đánh chiếm Yên Sơn và không may hy sinh tại trận đánh này. Việc này đã khiến vương triều nhà Nguyễn phẫn nộ, ban lệnh “tru di tam tộc” nhà Cao Bá Quát, cấm lưu hành văn thơ của ông. Dẫu vậy, đến nay, những tác phẩm của ông vẫn lưu truyền với giá trị nghệ thuật vô cùng lớn. Sự thật việc Cao Bá Hưng tự nhận là cháu nội 7 đời của Cao Bá Quát Vài năm trở lại đây, khi chương trình Sing My Song được công chiếu trên kênh truyền hình VTV3 và sự xuất hiện của thí sinh tiềm năng Cao Bá Hưng – người tự xưng là con cháu đời thứ 7 của Cao Bá Quát đã khiến dân tình đặt ra nhiều thắc mắc. Câu chuyện Cao Bá Quát bị tru di tam tộc cũng được đưa ra bàn tán sôi nổi. Theo đó, nhiều người không tin lời của Hưng do theo thông tin thì sau khi thi hành án tru di tam tộc, cụ Cao Bá Quát không thể có truyền nhân đời sau được. Tuy nhiên, theo lời giải thích từ Hưng, gia đình có cuốn gia phả nhà họ Cao ghi rõ các đời từ trước đến nay. Đặc biệt, giống như ông nội của Hưng – cụ Cao Bá Nghiệp, truyền thuyết tại làng Phú Thị, Gia Lâm, Hà Nội, việc “tru di tam tộc” của nhà Nguyễn không thực hiện được. Trong lúc bắt nhốt, tra khảo gia đình họ Cao về tung tích của Cao Bá Quát, con trai Cao Bá Bính đã đem theo quân lính để giải cứu, nhiều người chạy trốn, di tản khắp nơi nên vẫn còn duy trì dòng họ đến bây giờ. Thực hư chuyện Cao Bá Quát bị tru di tam tộc ra sao, đến nay vẫn còn là câu hỏi không có lời giải đáp. Nhiều câu chuyện và cách lý giải khác nhau đã được lưu truyền, tuy nhiên chưa câu chuyện nào đưa ra được bằng chứng chứng thực. Chỉ tiếc thương thay cho một kỳ tài với cuộc đời quá đỗi truân chuyên.
Cao Bá Quát nhân tài kiệt xuất trời Nam, một con người nổi tiếng văn hay chữ tốt được dân gian tôn xưng là “Thánh Quát”. Quá tài giỏi nhưng vì khí khái kiêu căng, ngạo nghễ nên cuộc đời ông gặp đầy gian truân… Cao Bá Quát 1809 – 1854 tự là Chu Thần, hiệu Cúc Đường, biệt hiệu Mẫn Thiên, là người làng Phú Thị, huyện Gia Lâm, tỉnh Bắc Ninh, nay thuộc xã Phú Thị, huyện Gia Lâm, Hà Nội. Ông là văn tài xuất chúng của nước ta vào thế kỷ XIX. Ngay từ thuở nhỏ, Bá Quát đã nổi tiếng học giỏi nên được mọi người coi như thần đồng. Tự buộc tóc lên trần nhà, cùm chân vào án thư để luyện chữ Là người thông minh từ nhỏ, năm 12 tuổi, Cao Bá Quát đã theo các bậc đàn anh lều chõng đi thi. Khi còn đi học ở Bắc Ninh, Cao Bá Quát nổi tiếng về tài văn thơ đối đáp thông minh và tài họa, nhưng lại viết chữ rất xấu. Xấu hổ với chữ viết như gà bới, đêm đến, ông thường thức khuya miệt mài tập viết chữ. Buồn ngủ quá, ông tự buộc tóc mình lên mái nhà để mỗi lần ngủ gật bị giật tóc đau, phải tỉnh lại. Ông còn buộc chân vào án thư để không thể “chạy đi chơi” được. Nhờ sự quyết tâm, kiên nhẫn, một thời gian sau, từ viết chữ xấu, Cao Bá Quát nổi tiếng khắp vùng về biệt tài viết chữ đẹp. Tương truyền, chữ viết của ông như “rồng bay phượng múa”, bút tích còn lại hiện nay được lưu lại trong bài đề tựa cuối cùng của “Mai Am thi tập” của công chúa Lại Đức, con gái vua Minh Mạng. Không những viết chữ đẹp, Cao Bá Quát còn nổi tiếng về tài văn thơ. Ông có thể “xuất khẩu thành thơ”, làm vế đối mọi lúc mọi nơi, ý tứ rất chuẩn mực, sắc sảo. Tài năng văn chương của ông khiến ngay cả ông vua hay chữ Tự Đức cũng phải thán phục. Vua trực tiếp ca ngợi ông và người bạn vong niên của ông là Nguyễn Văn Siêu rằng “Văn như Siêu, Quát vô tiền Hán”, nghĩa là Văn như Nguyễn Văn Siêu và Cao Bá Quát, đời tiền Hán không có ai bằng. Tuy vậy, Cao Bá Quát là người không mấy may mắn trên con đường công danh khoa cử. Năm Minh Mệnh thứ 12 1831, ông thi Hương ở trường Hà Nội, đậu Á nguyên Cử nhân, tức là đỗ thứ nhì trong kỳ thi đó. Nhưng khi bài thi bị duyệt lại vì có lỗi, ông bị đánh tụt xuống cuối bảng. Vào kinh để thi Hội nhiều lần, ông đều bị đánh trượt. Hội thi hương ở trường Hà Nội. Ảnh Wikipedia Chuyện cá nuốt cá, người trói người Chuyện kể rằng khi còn bé, Cao Bá Quát ra tắm ở Hồ Tây. Đúng vào lúc vua Minh Mệnh tuần du ở ngoài bắc, nhà vua cũng đến Hồ Tây xem phong cảnh. Đạo ngự đi qua, tàn lọng rợp trời, gươm đao sáng quắc, ai cũng phải tránh xa, riêng cậu Quát cứ tự do vùng vẫy. Lính đến bắt lôi lên bờ, cậu cứ trần truồng đến trước mặt vua, tự khai là học trò, vì trời nực ra hồ tắm mát. Vua nhìn xuống hồ thấy có con cá lớn đang đuổi đàn cá con, liền đọc một câu đối, bảo nếu đúng Quát là học trò thì phải đối được, sẽ tha không đánh đòn; vua đọc “Nước trong leo lẻo, cá đớp cá”. Bá Quát bèn ứng khẩu đối ngay “Trời nắng chang chang, người trói người” Vua và đoàn tùy tùng nghe xong đều khen hay và tha cho Bá Quát. Một góc Hồ Tây cạnh chùa Trấn Quốc ngày xưa. Ảnh Chơi khăm “ngài” lý trưởng Ở làng Cao Bá Quát có viên lý trưởng có tiếng là hay nhũng lạm. Dân làng chê trách nhưng không ai dám chỉ trích công khai. Cao Bá Quát tuy còn nhỏ tuổi, nhưng cũng biết chung mối bất bình với dân chúng. Nhân có hội làng, dân làng cho đắp đôi con voi thờ dựng trước cửa đình, mà tiền đắp voi chủ yếu là do vị lý trưởng kia bỏ ra lấy tiếng là làm công đức nhưng thực chất là mua danh. Bá Quát liền rủ chúng bạn ra xem rồi lựa lúc vắng vẻ lấy bút viết luôn vào lưng voi bài thơ như sau “Khen ai rõ khéo đắp đôi voi Đủ cả đầu đuôi, đủ cả vòi Chỉ có cái kia sao chẳng đắp Hay là thầy Lý bớt đi rồi?” Ước đời như Nghiêu, Thuấn Một lần Cao Bá Quát đến nghe bình văn ở một trường Đốc. Nghe đọc những câu văn tầm thường, ông cứ lắc đầu và còn bịt mũi tỏ ra khó chịu. Lính bắt vào nộp quan đốc học. Quát xưng là học trò, hỏi học với ai, ông trả lời – Tôi học với ông Trình ông Chu. Trình, Chu là hai vị học giả vào hàng tôn sư trong đạo Nho. Trả lời như vậy là tỏ ra mình học với các bậc thánh hiền, học từ gốc chứ không thèm học ngọn! Quan đốc giận lắm, ra câu đối bắt Quát phải đối ngay – “Nhĩ tiểu sinh hà xứ đáo lai, cảm thuyết Trình Chu sự nghiệp”? Tạm dịch là Chú bé này ở đâu đến đây, dám nói đến sự nghiệp ông Trình, ông Chu to lớn? Thời kỳ Nghiêu Thuấn là thười kỳ thịnh vượng coi trọng đạo đức, tôn kính trời đất là thời kỳ đặt định văn hóa cho con người. Ảnh Cậu Quát bèn lập tức đối lại – “Ngã quân tử kiến cơ nhi tác, dục vi Nghiêu Thuấn quân dân”. Tạm dịch Người quân tử gặp thời làm việc, muốn quân dân đều được như đời Thuấn, đời Nghiêu. Quan đốc phục tài, nhất là cảm cái chí hướng lớn lao của người trẻ tuổi này. Ông đã không giận mà còn thưởng cho Cao Bá Quát. Kết bạn vong niên với Nguyễn Siêu Thời bấy giờ có ông Nguyễn Văn Siêu nổi tiếng là hay chữ. Được biết ông Siêu dạy học ở Hà Nội, Cao Bá Quát liền từ Bắc Ninh sang Hà Nội, tìm đến trường của ông Siêu dạy để nghe giảng bài. Bá Quát tới nơi, đứng cửa sổ dòm vào, thấy một ông đồ khoảng 25, 26 tuổi, ngồi trên một cái chõng cũ siêu vẹo, học trò thì ngồi lê la dưới đất, chứng tỏ là một lớp học nghèo. Thầy đồ Siêu nhìn thấy một anh chàng trẻ tuổi chừng mười lăm, mười sáu, thơ thẩn đứng ngoài cửa sổ nhìn vào, thầy đồ hỏi – Anh đi đâu mà đứng ở đây? Bá Quát trả lời – Tôi là học trò đi qua trường, thấy thầy giảng văn muốn xin thầy cho vào nhập học. Ông Siêu muốn thử tài học của Bá Quát, bèn nói – Nếu thật anh là học trò, thì anh đối thử vế đối này “Tiên sinh tọa tịch thượng, cót chi két, két chi cót, cót cót két két”. Tạm dịch là Ông thầy ngồi trên chõng, kêu cót két, két cót, cót cót két két. Bá Quát liền đối lại “Tiểu tử nhập đình trung, thẩn chi thơ, thơ chi thẩn, thẩn thẩn thơ thơ” Tạm dịch trò nhỏ vào sân trường, đi thẩn thơ, thơ thẩn, thẩn thẩn thơ thơ. Nguyễn Văn Siêu nghe thấy vế đối tài tình rất phục, mời vào trong ngồi, hỏi tên tuổi và lai lịch mới biết là Cao Bá Quát ở Bắc Ninh, là người mà ông đã nghe tiếng đồn là thần đồng. Về sau hai người đi lại thăm nhau luôn và trở thành đôi bạn vong niên thân thiết. Bá Quát tới nơi, đứng cửa sổ dòm vào, thấy một ông đồ khoảng 25, 26 tuổi, ngồi trên một cái chõng cũ siêu vẹo, học trò thì ngồi lê la dưới đất. Ảnh THTG Đèn nhà ai nhà nấy rạng Chuyện kể rằng Cao Bá Quát có dịp vào Quảng Nam, đến thăm nhà một cụ đồ sau này là thân sinh ông Nguyễn Hiển Dĩnh. Nhiều người nghe tiếng ông giỏi thơ văn đã đến xin chữ. Một người làm đôi đèn lồng để thờ mẹ, xin ông cho một đôi câu đối chữ Nôm. Ông Quát viết luôn vào đôi đèn lồng hai câu rất tài tình như sau “Trước mẹ dạy con gió chiều nào che chiều ấy, con dạ. Giờ con thờ mẹ đèn nhà ai rạng nhà nấy, mẹ ơi!” Người đời đều khen tụng là cặp câu đối rất hay, dùng toàn thành ngữ dân gian mà lại rất tương hợp với hoàn cảnh của chủ nhân cũng như ý nghĩa và công dụng của cái đôi đèn thờ. Bản tấu trình hiểm hóc Nhờ có tài văn chương, tuy chức phận thấp, Cao Bá Quát vẫn thường được nhiều người coi trọng, kể cả nhà vua. Chuyện kể rằng một hôm có hai vị quan trong triều là Phan Văn Nhã và Võ Văn Khải đánh nhau vì chuyện văn chương. Ông Khải xem bài văn của ông Nhã, chê kém và nói “Văn như thế chó nó cũng làm được”. Thế là hai bên sinh sự. Cao Bá Quát vì có chứng kiến việc này nên vua Tự Đức bắt viết tờ tấu trình cho vua rõ đầu đuôi. Quát cứ “sự thực tường khai” như sau “Quát quá Nhã gia Nhã hô Quát! Quát! Quát lai ẩm Thủ bất tri Vĩ bất tri Bất tri như hà Chỉ kiến lưỡng tương đấu khẩu Bỉ viết cẩu Thử diệc viết cẩu Thượng hạ giai cẩu Lưỡng tương đấu ẩu Thần kiến thế nguy Thần cụ thần tẩu”. Mấy câu thơ trong bản tấu trình trên tạm dịch là “Quát qua nhà Nhã Nhã gọi Quát! Quát! Quát đến uống Đầu không biết Cuối không biết Chẳng biết vì sao Chỉ thấy hai bên cãi cọ… Bên này rằng chó Bên kia cũng chó Trên dưới đều chó Hai bên đấu võ Thần thấy thế nguy Thần sợ thần chạy!” Vua Tự Đức đọc tới câu “Thượng hạ giai cẩu”, biết là Cao Bá Quát lợi dụng lời khai để chơi khăm cả nhà vua, nhưng vì lời khai hay và đúng sự thực quá nên cũng đành “ngậm bồ hòn làm ngọt”. Quát viết tấu chương kể lại sự việc có pha chút chơi khăm nhà vua. Ảnh Spiderum Cả gan mà vuốt râu hùm Thời Bá Quát còn làm quan đương triều, Vua Tự Đức thường cứ nghĩ ra những trò văn chương độc đáo để khoe tài với các quan. Một lần, ông nói với họ – Đêm qua, trẫm nằm mơ thấy hai câu thơ thật đặc biệt “Viên trung oanh chuyển khề khà ngữ Dã ngoại đào hoa lấm tấm khai” Ý tứ là Trong vườn chim oanh hót giọng “khề khà”; Ngoài đồng hoa đào nở “lấm tấm”. – Các khanh thấy thế nào? Các quan đều nức nở khen thơ hay và lạ, có chữ Hán kèm tiếng Nôm, rõ nghĩa mà có hình ảnh tân kỳ, chắc là tiên thánh nào ban cho, hoặc nhà vua nghĩ được câu thần cú. Chỉ có Cao Bá Quát quỳ tâu – Tâu bệ hạ, câu thơ ấy là thơ cũ đấy ạ! Nguyên là hai câu 3, 4 ở một bài thơ thần đã được nghe. Vua ngạc nhiên lắm, thơ mình nghĩ ra kia mà! viên quan họ Cao này sao dám nói là thơ cũ? Nhưng vua cũng bình tĩnh bảo – Nếu khanh đã nghe cả bài thì đọc thử xem Cao Bá Quát bèn đọc tức thì “Bảo mã tây phong huếch hoác lai Huênh hoang nhân tự thác đề hồi Viên trung oanh chuyển khề khà ngữ Dã ngoại đào hoa lấm tấm khai Xuân nhật bất văn sương lộp bộp Thu thiên chỉ kiến vũ bài nhài Khù khờ thi tứ đa nhân thức Khệnh khạng tương lai vấn tú tài” Tạm dịch là “Gió tây ngựa huếch hoác về Huênh hoang người cũng tự đi theo vào Khề khà oanh hót vườn nao Đồng quê lấm tấm muôn đào nở hoa Xuân không lộp bộp sương sa Ngày thu chỉ thấy trời mưa bài nhài Khù khờ thơ đã cũ rồi Ông còn khệnh khạng hỏi người hay thơ” Đức vua bị một “đòn” đau quá. Ông biết rõ Cao Bá Quát bịa ra, mà lại ngang nhiên trêu chọc ông “Khù khờ thơ đã cũ rồi, ông còn khệnh khạng hỏi người hay thơ”. Nhưng ngoài mặt nhà Vua vẫn phải khen hay – vì đúng là thơ của Bá Quát hay thật, và sai lính mang trà tặng thưởng Cao Bá Quát. Vua bị chơi khăm nhưng vẫn nể phục Quát. Ảnh minh họa Pinterest Tiếc cho một nhân tài Cao Bá Quát là người rất bản lĩnh. Ông dù sống một đời thanh bần nhưng luôn coi thường những kẻ khom lưng, luồn cúi để được giàu sang, và là người thường tự tin rằng có thể thay đổi được vận mệnh của đời mình. Khi ra làm quan, ông muốn đem tài năng giúp đời, nhưng rồi sớm nhận ra có những vấn đề không thể thay đổi được. Những lúc cảm thấy như bất lực trước thời cuộc ấy, ông muốn hưởng an nhàn. Nhưng khi chứng kiến nỗi thống khổ của nhân dân ông lại không thể. Cuối cùng, con đường ông lựa chọn là tham gia khởi nghĩa nông dân. Triều Nguyễn càng về cuối càng suy tàn. Năm 1850, Cao Bá Quát được triều đình cử đi giữ chức Giáo Thụ ở Quốc Oai Sơn Tây. Năm 1853 các tỉnh Sơn Tây, Kinh Bắc bị nạn châu chấu cắn lúa, dân đói khổ, nổi loạn. Ông từ chức, lấy cớ nuôi mẹ già rồi liên lạc với các nhóm nghĩa quân, lại bầu Lê Duy Cự tức Duy Đồng, tự xưng là cháu bốn đời của Lê Hiển Tông lên làm Minh chủ, còn mình thì làm Quốc sư. Nghĩa quân phát động khởi nghĩa ở Mỹ Lương, tức Chương Mỹ và Lương Sơn, Bắc Ninh, tiến đánh vùng Hà Nội, Sài Sơn Sơn Tây nhưng mấy tháng sau thua trận phải rút về Mỹ Lương. Tháng 11 năm 1854 ông mất. Về cái chết của Cao Bá Quát có nhiều thuyết khác nhau. Một số người tin rằng ông bị bắt, giải về Hà Nội rồi đưa vào giam ở Huế trước khi đem ra chém đầu, Trong thời gian bị giam trong ngục ông có làm đôi câu đối nổi tiếng “Một chiếc cùm lim chân có đế, Ba vòng dây xích bước còn vương”. Dựa vào văn phong, người ta có thể tin đôi câu đối trên là do ông sáng tác. Song theo cuốn chính sử của nhà Nguyễn – “Đại Nam Thực lục chính biên” thì cho hay “Năm 1854 ông bị suất đội Đinh Thế Quang bắn chết tại trận. Vua Tự Đức hạ lệnh bêu đầu ông khắp các tỉnh miền Bắc rồi bổ ra ném xuống sông. Sau Quang được thăng lên Cai đội”. Như vậy là ông chết trận chứ không hề bị giam cầm. Cũng có thuyết nói ông bị bắt và tự sát trên đường giải về Kinh. Có lẽ người ta đã nhầm ông với người anh song sinh của ông là Cao Bá Đạt khi ấy đang làm Tri huyện Nông Cống Thanh Hóa, vì em làm phản mà bị vạ lây, bị bắt giải về kinh đô, giữa đường Bá Đạt cắn ngón tay viết bản trần tình rồi tự tử. Sau khi Cao Bá Quát qua đời, các tác phẩm của ông bị triều đình tiêu hủy khá nhiều. Hiện nay còn giữ lại được khoảng bài thơ và 21 bài văn xuôi. Đường Phong
1. Hay là thày Lý…?Tương truyền viên lý trưởng ở địa phương thường hay tham nhũng, bớt xén quỹ công. Nhân việc làng cho đắp đôi voi ở trước cửa đình, Cao Bá Quát khi đó còn là một chú bé đã viết mấy câu thơ lên lưng voiKhen ai rõ khéo đắp đôi voiĐủ cả đầu đuôi, đủ cả vòiCòn một cái kia sao chẳng thấyHay là thày Lý bớt đi rồi?2. Cá đớp cá, người trói ngườiTương truyền khi Vua Minh Mạng ra tuần du Bắc Hà, Ngài có ra ngoạn cảnh Hồ Tây. Cao Bá Quát lúc đó còn nhỏ đã nhảy xuống hồ tắm mà không chịu lánh xa theo lệnh của binh lính. Bị giải đến trước vua, Cậu bé Quát khai mình là học trò nhà quê ra Hà Nội vừa lúc nóng nực nên xuống hồ tắm. Nhân nhìn thấy con cá lớn đuổi bắt đàn cá bé dưới nước, Vua bèn ra một vế đối, hẹn nếu đối được sẽ tha đánh đòn. Vắp đối của Vua làNước trong leo lẻo, cá đớp cáCậu bé Quát ứng khẩu đối lại rất nhanhTrời nắng chang chang, người trói người3. Bốn bồ chữTương truyền Cao Bá Quát thường nói “ Chữ trong thiên hạ nhất vào 4 bồ; Mình Quát chiếm 2 bồ. Anh của Quát là Bá Đạt và bạn của Quát là Văn Siêu chung nhau 1 bồ. Bồ còn lại chia cho khắp kẻ sĩ”. Kể cũng quá cao ngạo!4. Con thuyền Nghệ AnTùng Thiện Vương Miên Thẩm 1819-1870 và Tuy Lý Vương Miên Trinh 1820-1897, con trai thứ 10 và 11 của Vua Minh Mang là hai nhà thơ tên tuổi. Hai Ông lập ra Mặc Vân Thi xã còn gọi là Tùng Vân thi xã, giao kết với nhiều thi nhân không kể địa vị, tuổi tác. Tương truyền ban đầu đọc thơ của một số vị trong Thi xã này, Cao Bá Quát đã hạ hai câuNgán thay cái mũi vô duyênCâu thơ Thi xã, con thuyền Nghệ AnAi cũng biết Nghệ An nổi tiếng về nghề nước mắm, con thuyền Nghệ An chở nước mắm nên khá nặng mùi. Tuy vậy Miên Thẩm và Miên Trinh vẫn không chấp nhặt và dần dà mời Cao Bá Quát tham gia vào Thi đời còn truyền tụng hai câu thơ nhiều nhà nghiên cứu cho là của Vua Tự ĐứcVăn như Siêu, Quát vô Tiền HánThi đáo Tùng, Tuy thất Thịnh ĐườngVăn như Nguyễn Văn Siêu, Cao Bá Quát thì không có thời Tiền Hán/ Thơ được như Tùng Thiện Vương, Tuy Lý Vương thì mất cả đời Thịnh Đường.5. Chữa câu đối của Vua Tự ĐứcTương truyền Vua Tự Đức sáng tác đôi câu đối sau đâyTử năng thừa phụ nghiệpThần khả báo quân âncon có thể nối nghiệp cha/ Bày tôi có thể báo đáp ơn vua.Ngài rất đắc ý, cho treo ở Điện Cần Chánh. Bá quan đều trầm trồ khen đôi câu đối trên rất súc tích, riêng Cao Bá Quát cho là không chỉnh. Vua Tự Đức giận lắm bèn triệu vào hạch hỏi. Ông tâu rằng viết như vậy là đảo lộn cương thường, đặt con trên cha, đặt bày tôi trên vua; hơn nữa cặp con-cha đứng trước cặp bày tôi-vua lại càng trái ngược. Khi được nhà vua cho phép chữa, Ông vẫn dùng 10 chữ này, chỉ đảo lại trật tự các từ và được Vua Tự Đức chấp nhậnQuân ân, thần khả báoPhụ nghiệp, tử năng thừa6. “Đọc nối” thơ của Nhà VuaTương truyền một hôm, sau khi tan chầu, Vua Tự Đức lưu bá quan lại và đọc hai câu thơ vừa Hán vừa Nôm mà Ngài vừa nghĩ ra đêm trướcViên trung, oanh ngữ khề khàchuyểnDã ngoại đào hoa lấm tấmkhaiTrong vườn, chim oanh hót khề khà/ Ngoài nội, hoa đào nở lắm tấmBá quan đều thán phục vì quả thật hai câu thơ trên của Tự Đức rất độc đáo. Riêng Cao Bá Quát trầm ngâm tâu Vua là dường như hai câu này nằm trong một bài thơ Ông đã đọc được ở đâu đó. Vua Tự Đức rất bực vì chính Ngài đã sáng tác hai câu thơ trên nên nhà Vua bắt Ông phải đọc kỳ được bài thơ nếu không sẽ bị phạt. Sau khi suy nghĩ một hồi với lý do cần nhớ lại vì đọc đã quá lâu, Ông cất giọngBảo mã Tây phươnghuếch hoác laiHuênh hoangnhân tự thác đề hồiViên trung, oanh ngữ khề khàchuyểnDã ngoại đào hoa lấm tấmkhaiXuân nhật bất văn sương lộp bộpThu thiên chỉ kiến vũ bài khờthi tứ đa nhân thứcKhệnh khạngtương lai vấn tú ra Ông đã sáng tác thêm 6 câu thơ nữa, mỗi câu cũng xen 2 chữ thuần Nôm vào như của Nhà vua, tạo thành một bài thơ hoàn chỉnh. Nhà Vua cũng phải tấm tắc khen tài thơ Cao Bá Quát sau khi bắt Ông thú nhận đã “bịa” thêm 6 câu trên chứ chẳng có sách nào chép bài thơ đó ý của 2 câu cuối là “lớm khéo” Nhà vua Khù khờ vì tứ thơ đó nhiều người đã biết, lại còn khệnh khạng mang đi hỏi người tài. Chắc hẳn những cuộc bình thơ của Nhà Vua – Thi sĩ Tự Đức cũng cho phép “vượt khuôn phép” một chút chứ không khắt khe ghép tội “khi quân” như trong những buổi thiết triều chính thống!7. Bị xiềng xích và bị chém đầu ?!Như đã nói ở trên, Cao Bá Quát chết ở trận tiền nhưng do vừa phục vừa sợ Ông nên người đời cứ thêu dệt giai thoại Ông bị bắt, bị tra tấn và đánh đập rồi bị xử chém. Người ta truyền tụng trong ngục tối, Ông đã đọc hai câuMột chiếc cùm lim, chân có đếBa vòng xích sắt, bước thì vương.với ý nghĩa Ông đặt “đế vương” thấp dưới chân mình.Khi ra pháp trường, người ta truyền tụng Ông còn ngâm hai câuBa hồi trống giục, mồ cha kiếpMột nhát gươm đưa, bỏ mẹ là kỳ lạ!Sau này lấy cảm hứng từ những giai thoại trên, nhà văn Nguyễn Tuân đã viết truyện ngắn "Chữ người tử tù" trong tập "Vang bóng một thời" với nhân vật chính là Huấn Cao, người tù chờ ra pháp trường đã tặng chữ cho viên giám Bị "gán" là tác giả đôi câu đối Trung QuốcXưa nay, người đời thường truyền tụng Cao Bá Quát là tác giả đôi câu đốiThập tải luân giao cầu cổ kiếmNhất sinh đê thủ bái mai hoa.Mười năm giao kết tìm gươm cổ/ Một đời chỉ cúi lạy hoa mai. Bút tích đôi câu đối này cũng được cho là thủ bút của Ông vì được viết rất đẹp. Thực ra tác giả là một viên quan Trung Quốc. năm Mậu Thìn 1868, đoàn sứ bộ của ta sang Trung Quốc do Chánh sứ là Hoàng giáp Lê Tuấn, Phó sứ là Hoàng giáp Nguyễn Tư Giản, Phó sứ thứ hai là Cử nhân Hoàng Tịnh Bắc. Tri phủ Hán Dương là Ngải Tuấn Mỹ đã làm ba đôi câu đối tặng cho ba vị Chánh phó sứ của ta. Nguyễn Tư Giản 1823-1890 được tặng đôi câu đối trên. Sự việc này được ghi trong chính sử cũng như tư liệu riêng của Nguyễn Tư Giản và xảy ra sau khi Cao Bá Quát mất tới 13 năm!
câu chuyện về cao bá quát