♠️ Kháng Kháng Sinh Ở Việt Nam

Theo Bùi Quang Tề và cs (2002), ở Việt Nam có tới 46 loại kháng sinh được sử dụng trong nuôi trồng thuỷ sản trong đó kháng sinh được sử dụng nhiều trong nuôi và sản xuất tôm. Hậu quả khi dùng kháng sinh không đúng. Tùy tiện thuốc kháng sinh sẽ gây hậu quả khó lường. Gây tốn kém, lãng phí: Việc sử dụng kháng sinh chữa các bệnh do virút hoặc dùng kháng sinh mạnh khi chưa cần thiết đã gây ra sự lãng phí và tốn kém vô ích. Không khỏi bệnh: Tự ( khang-sinh-nho-mat-pho-bien-trong-nhan-khoa ) Các loại thuốc kháng sinh nhỏ mắt trong nhãn khoa được dùng rất phổ biến, chỉ định điều trị nhiễm trùng mắt do vi khuẩn như viêm kết mạc, viêm loét giác mạc, viêm bờ mi, chắp, lẹo. Cũng như ngăn ngừa các biến chứng nhiễm trùng nghiêm trọng sau phẫu thuật. + Nhiễm khuẩn gan mật: K. pneumoniae là vi khuẩn chính gây nhiễm khuẩn huyết và áp xe gan ở Việt Nam. Sử dụng kháng sinh nhóm cepalosporin thế hệ 3 hoặc 4, hoặc carbapenem (nếu người bệnh có nguy cơ nhiễm vi khuẩn sinh beta - lactamase phổ rộng - ESBL) phối hợp với một kháng sinh Vi khuẩn kháng kháng sinh. PGS TS Nguyễn Vũ Trung - Phó Giám đốc Bệnh viện Nhiệt đới Trung ương cho biết hiện nay ở Việt Nam tình trạng vi khuẩn kháng thuốc kháng sinh không còn xa lạ. Đã có nhiều trường hợp, mặc dù dùng kháng sinh điều trị nhưng tình trạng nhiễm khuẩn Ngày đăng: 07/07/2016, 01:35. Phân tích thực trạng: Sử dụng kháng sinh kháng kháng sinh Việt Nam GARP- Nhóm nghiên cứu Quốc gia Việt Nam TS Nguyễn Văn Kính Chủ tịch Tháng 10- 2010 Nhóm nghiên cứu quốc gia GARP-Việt Nam (NWG) TS BS Nguyễn Văn Kính Chủ tịch Giám đốc Bệnh viện Bệnh Lạm dụng kháng sinh trong chăn nuôi, NTTS - Lợi bất cập hại Theo khảo sát của Cục Thú y (2019) với 208 trang trại chăn nuôi gia cầm tại Tiền Giang, lượng kháng sinh sử dụng trong chăn nuôi tại Việt Nam tăng 6 lần so với một số nước châu Âu. Trong đó, 84% kháng sinh được sử dụng để phòng bệnh. Các nhà khoa học tại Viện Vệ sinh Dịch tễ Trung ương đã tiến hành nghiên cứu về thực trạng, giải pháp khắc phục tình trạng kháng kháng sinh ở Việt Nam. Gojek và TBS Energi Utama lập liên doanh để đẩy mạnh phát triển hệ sinh thái xe điện 2 bánh của Indonesia Hyundai Nam Định trao tặng 40 chiếc máy tính bảng cho trẻ em khó khăn Các nhà khoa học tại Viện Vệ sinh Dịch tễ Trung ương đã tiến hành nghiên cứu về thực trạng, giải pháp khắc phục tình trạng kháng kháng sinh ở Việt Nam. Thực trạng kháng kháng sinh (KKS) đã trở thành vấn đề toàn cầu, đặc biệt là ở các nước đang phát triển - nơi mà các loại bệnh truyền nhiễm còn chiếm tỷ lệ cao trong cơ cấu bệnh tật. 0IFcziu. Tổ chức Y tế Thế giới xếp Việt Nam vào nhóm các nước có tỉ lệ kháng kháng sinh cao nhất thế giới. Từ năm 2009 đến nay, số lượng thuốc kháng sinh ở Việt Nam bán ra ngoài cộng đồng đã tăng gấp 2 lần. Nguyên nhân chính là do lạm dụng kháng sinh, có tới 88% kháng sinh tại thành thị được bán ra mà không cần kê đơn, ở nông thôn tỉ lệ lên đến 91%. Đã xuất hiện siêu vi khuẩn kháng tất cả các loại kháng sinh! Tại một hội nghị của Bộ Y tế về kháng thuốc cuối tháng Bộ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Thị Kim Tiến nhấn mạnh, tình trạng kháng thuốc ngày càng trầm trọng và là mối nguy sức khoẻ toàn cầu. Tình trạng kháng thuốc kháng sinh gây tác động lớn đến nền kinh tế, sự phát triển chung của xã hội. Không chỉ riêng đối với Việt Nam nó còn tác động đến tất cả các nước trên thế giới, đặc biệt là trong thời đại toàn cầu hoá hiện nay. Tình trạng kháng kháng sinh tại Việt Nam ngày càng gia tăng khi xuất hiện một vài loại siêu vi khuẩn kháng lại tất cả các loại thuốc. Tại hội nghị khoa học toàn quốc về hồi sức cấp cứu và chống độc 2017, GS Nguyễn Gia Bình – Chủ tịch Hội Hồi sức cấp cứu và Chống độc – bày tỏ lo ngại về tình trạng kháng kháng sinh tại nước ta. Theo ông, hầu hết các cơ sở khám chữa bệnh đang phải đối mặt với tốc độ lan rộng của các vi khuẩn kháng nhiều nhóm kháng sinh. Trong đó tình hình kháng thuốc tại các tỉnh phía Nam nghiêm trọng hơn. Tại các khoa hồi sức tích cực, vấn đề này còn nan giải hơn, do nơi đây tập trung những bệnh nhân nặng nhất, qua nhiều khoa điều trị. Tại các tỉnh phía Nam, tỉ lệ Ecoli vi khuẩn đường ruột kháng kháng sinh lên tới 74,6%; tỉ lệ kháng của vi khuẩn gây nhiễm trùng lên tới gần 60%; vi khuẩn gây nhiễm khuẩn bệnh viện có tỉ lệ kháng với hầu hết các loại kháng sinh ở mức trên 90%… Với nhóm kháng sinh carbapenem, nhóm kháng sinh mạnh nhất hiện nay cũng có tỉ lệ lên tới 50%, đặc biệt là các vi khuẩn gram âm mang gen kháng thuốc như Beta lactamase. PGS-TS Lương Ngọc Khuê – Cục trưởng Cục Quản lý khám chữa bệnh, Bộ Y tế – cho biết, trong khi nhiều quốc gia phát triển đang còn sử dụng kháng sinh thế hệ 1 có hiệu quả thì Việt Nam đã phải sử dụng tới kháng sinh thế hệ 3 và 4. Đáng lo ngại hơn, ở nước ta đã xuất hiện một vài loại siêu vi khuẩn kháng lại tất cả các loại kháng sinh. Phổ biến nhất là nhóm vi khuẩn gram âm đường ruột. Tình trạng các bác sĩ sử dụng kháng sinh không hợp lý cũng được cảnh báo. Theo khảo sát của BV Chợ Rẫy, khoảng 50% kháng sinh được bác sĩ kê đơn bất hợp lý; 32% bác sĩ chỉ định sử dụng kháng sinh cho các bệnh nhân không nhiễm khuẩn; 33% bác sĩ sử dụng kháng sinh kéo dài và không cần thiết… Trong khi tốc độ tìm ra kháng sinh mới trên thế giới không kịp so với mức độ gia tăng của các vi khuẩn kháng kháng sinh. Trong hơn 5 năm từ 1983 – 1987, cơ quan Quản lý Dược và Thực phẩm Mỹ mới chỉ cấp giấy chứng nhận sử dụng cho 18 loại kháng sinh. Còn từ năm 2008 đến nay không có thêm kháng sinh mới nào được tìm ra. Với tình hình này, WHO dự tính đến năm 2050, cứ 3 giây sẽ có một người do các siêu vi khuẩn kháng thuốc, tương đương với khoảng 10 triệu người mỗi năm. Khi đó, các bệnh thông thường như ho hay chỉ một cũng có thể gây Để hạn chế tình trạng này, Bộ trưởng Bộ Y tế đã ra quyết định thành lập nhóm kỹ thuật về giám sát kháng thuốc giai đoạn từ năm 2017-2020. Nhóm sẽ có nhiệm vụ tham gia phối hợp, đánh giá, báo cáo giám sát về kháng thuốc và đưa ra các giải pháp ngăn chặn sự gia tăng kháng thuốc của vi khuẩn gây bệnh thường gặp. Lo ngại kháng kháng sinh ở trẻ nhỏ! Ở trẻ nhỏ, tình trạng kháng kháng sinh cũng vô cùng Từ kết quả khám sàng lọc bệnh nhi đến khám và điều trị tại viện, PGS-TS Trần Minh Điển – Phó Giám đốc Bệnh viện Nhi Trung ương – cho biết có khoảng 30% bệnh nhi có vi khuẩn kháng thuốc. Một trong những nguyên nhân làm trẻ có vi khuẩn kháng thuốc là do nhiều trẻ được các ông bố bà mẹ tự ra hiệu thuốc mua thuốc điều trị với liều lượng kháng sinh không hợp lý. Thực tế thăm khám cho các bệnh nhi, PGS-TS Nguyễn Tiến Dũng – nguyên Trưởng khoa Nhi, Bệnh viện Bạch Mai – đã gặp rất nhiều trường hợp cha mẹ tự làm bác sĩ, tự ý mua thuốc điều trị cho con làm ảnh hưởng đến sức khỏe của trẻ và gây khó khăn cho quá trình điều trị của bác sĩ. Bởi, việc cha mẹ tự ý cho trẻ dùng thuốc kháng sinh, dùng với liều lượng không thích hợp sẽ gây ra tình trạng kháng thuốc kháng sinh của vi khuẩn gây bệnh. Điều này sẽ làm cho quá trình điều trị bệnh trở nên khó khăn hơn, tốn nhiều thời gian hơn và làm trẻ mệt mỏi hơn. “Để kê được đơn thuốc cho bệnh nhân, bác sĩ chúng tôi phải học hỏi, trau dồi kỹ năng rất nhiều năm. Và kể cả những người đã có kinh nghiệm cũng phải thăm khám, hỏi han triệu chứng của bệnh nhân, rồi sau đó phải đắn đo, suy nghĩ mới kê được đơn thuốc” – bác sĩ Dũng cho biết. Đồng quan điểm với bác sĩ Dũng, bác sĩ Phạm Thanh Xuân – nguyên Phó Trưởng khoa Nhi, Bệnh viện Bạch Mai – cũng cho rằng, cha mẹ áp dụng phương pháp hỏi “bác sĩ google” rồi tự ý mua thuốc điều trị bệnh là rất nguy hiểm. Không phải bệnh gì dùng thuốc kháng sinh cũng khỏi, nếu dùng không đúng sẽ đến sức khỏe. Đặc biệt, đối với trẻ nhỏ, việc kháng sinh trong điều trị bệnh sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển và sức khỏe của trẻ. Không thể thấy các biểu hiện của bé giống bệnh này rồi tự ý mua thuốc điều trị bệnh. Hoặc không nên thấy các mẹ khác nói con họ bị như vậy dùng thuốc này là khỏi mà nghe theo và áp dụng vào con mình. Mỗi đứa trẻ là một cá thể khác nhau, phản ứng mỗi bé một khác, yếu tố cơ địa mỗi bé một khác nên cùng một bệnh nhưng với mỗi bé lại có cách điều trị riêng. Bác sĩ Xuân lấy ví dụ trường hợp bé chỉ xuất tiết mũi họng khò khè không phải do nhiễm khuẩn. Với trường hợp này mà dùng kháng sinh thì chắc chắn bé sẽ không đỡ và sẽ tái phát theo nguyên nhân gây nên yếu tố khò khè. Và cũng là dấu hiệu khò khè, chảy nước mũi kéo dài nhưng bé có tiền sử hen phế quản thì cách điều trị lại khác với bé không bị hen phế quản. Tuy nhiên, nhiều phụ huynh không hiểu biết hoặc không tuân thủ chỉ định của bác sĩ. Bên cạnh đó, tình trạng thuốc, không đến khám bác sĩ mà tự ý ra hiệu thuốc mua thuốc về điều trị, mua thuốc theo đơn của người khác hoặc nghe theo sự mách bảo của người khác… cũng góp phần làm gia tăng số lượng và mức độ các trường hợp dị ứng thuốc. Và hậu quả của việc thuốc dẫn đến kháng thuốc là làm cho thời gian điều trị bệnh kéo dài, kéo theo sử dụng nhiều kháng sinh, sẽ lại ảnh hưởng đến kinh tế, giá thành điều trị tăng cao. Đặc biệt, nhiều khuẩn kháng thuốc còn khiến nguy cơ tăng cao, nhất là với Cre Thùy Linh – Báo Lao ĐộngShared by Phong Tuan/Gr Maybe You Missed This F***king News Post Views 85 TÌNH HÌNH KHÁNG THUỐC KHÁNG SINH HIỆN NAY TẠI VIỆT NAM DS. Lê Mới Em, Bệnh Viện Đa Khoa Huyện Thạnh Trị, Sóc Trăng 1. Tình hình đề kháng thuốc kháng sinh hiện nay hình kháng thuốc trên thế giới. Trên thế giới, đặc biệt là các nước đang phát triển, vấn đề kháng thuốc đã trở nên báo động. Gánh nặng về chi phí điều trị do các bệnh nhiễm khuẩn gây ra khá lớn do việc thay thế các kháng sinh cũ bằng các kháng sinh mới, đắt tiền. Số liệu nghiên cứu giám sát ANSORP từ tháng 1/2000 đến tháng 6/2001 của 14 trung tâm từ 11 nước Đông Nam Á cho thấy tỷ lệ kháng cao của vi khuẩn S. pneumoniae. Trong số 685 chủng vi khuẩn S. pneumoniae phân lập được từ người bệnh, có 483 52,4% chủng không còn nhạy cảm với penicillin, 23% ở mức trung gian và 29,4% đã kháng với penicillin MIC ≥ 2mg/l. Kết quả phân lập vi khuẩn cho thấy tỷ lệ kháng penicillin ở Việt Nam cao nhất 71,4% tiếp theo là Hàn Quốc 54,8%, Hồng Kông 43,2% và Đài Loan 38,6%. Tỷ lệ kháng erythromycin cũng rất cao, ở Việt Nam là 92,1%, Đài Loan là 86%, Hàn Quốc là 80,6%, Hồng Kông là 76,8% và Trung Quốc là 73,9%. Số liệu từ nghiên cứu giám sát đa trung tâm đã chứng minh rõ ràng về tốc độ và tỷ lệ kháng của S. pneumoniae tại nhiều nước châu Á, những nơi có tỷ lệ mắc bệnh nhiều nhất thế giới. Theo số liệu nghiên cứu KONSAR từ 2005-2007 ở các bệnh viện Hàn Quốc cho thấy S. aureus kháng Methicillin MRSA 64%; K. pneumoniae kháng cephalosporin thế hệ 3 là 29%; E. colikháng fluoroquinolone 27%, P. aeruginosa kháng 33%, Acinetobacter spp. kháng 48%; P. aeruginosa kháng amikacin 19%, Acinetobacter 37%. E. faecium kháng vancomycin và Acinetobacter spp. kháng imipenem tăng lên dần. Tỷ lệ kháng phát hiện tại các phòng xét nghiệm của E. coli và K. pneumoniae đối với cephalosporin thế hệ 3 và P. aeruginosa đối với imipenem cao hơn trong bệnh viện. Tình hình kháng thuốc kháng sinh ở Việt Nam. Tỉ lệ kháng kháng sinh của các chủng vi khuẩn Gram dương. Tụ cầu vàng Staphylococcus aureus là nguyên nhân gây nhiều loại nhiễm khuẩn trong bệnh viện như viêm phổi, nhiễm trùng xương, tim và nhiễm khuẩn huyết. Hiện nay, tụ cầu vàng kháng methicillin MRSA kháng giống nhau đối với tất cả các penicillin hiện hành và các β – lactam khác. Từ sau thập niên 1990 đã xuất hiện các trường hợp nhiễm MRSA tại cộng đồng gọi là CA-MRSA community-associated MRSA, những trường hợp này hoàn toàn không có yếu tố nguy cơ nhiễm khuẩn mắc phải tại bệnh viện. Nhiễm trùng do vi khuẩn này đang có khuynh hướng xảy ra phổ biến hơn ở người trẻ, khỏe mạnh và gây bệnh chủ yếu ở da và mô mềm. Cũng có thể gặp viêm phổi hoại tử do vi khuẩn này. Nhiễm khuẩn do MRSA khó điều trị hơn so với tụ cầu vàng nhạy cảm với methicillin, chỉ có một số kháng sinh còn có hiệu quả tốt trong tình huống này. Tỉ lệ kháng kháng sinh của S. aureus khác nhau giữa các bệnh viện có tới 68,8% các chủng phân lập tại bệnh viện Chợ Rẫy kháng với Gentamicin. Tỉ lệ kháng Oxacillin cao nhất tại Bệnh viện Đa khoa Trung ương Huế với 63,8%. Theo báo cáo của Bệnh viện Chợ Rẫy năm 2008, có 8% số chủng S. aureus phân lập được đề kháng với vancomycin. Tuy nhiên, đến năm 2009, phần lớn các bệnh viện kể cả Chợ Rẫy không có chủng S. aureus nào đề kháng với vancomycin trừ một số bệnh viện tỉnh và bệnh viện trực thuộc Sở y tế cho kết quả đáng nghi ngờ về tỉ lệ kháng vancomycin của tụ cầu vàng, ví dụ như 60,9% S. aureus kháng vancomycin tại bệnh viện Uông Bí, 24,1% tại bệnh viện Bình Định và 15,6% tại bệnh viện Xanh Pôn. Streptococcus pneumoniae xuất hiện kháng thuốc với nhiều loại kháng sinh, bao gồm penicillin, cephalosporins các β – lactam, macrolide, fluoroquinolone, và thậm trí đã xuất hiện đa kháng thuốc. Cơ chế phế cầu đề kháng với β – lactam là thay đổi protein kết hợp thuốc PBP-penicillin binding protein. Tình hình kháng với macrolide là cao và nghiêm trọng trên phạm vi toàn cầu. Hai cơ chế chính kháng macrolide, cụ thể là kháng ở mức thấp MIC 1-32mcg/mL do thay đổi cơ chế bơm đẩy do gen mef A quyết định và kháng ở mức cao MIC> 64mcg/mL do cơ chế methyl hóa ribosome tác động lên vị trí kết hợp thuốc do gen erm B quyết định. Hiện nay, trên phạm vi toàn cầu, tình trạng phế cầu kháng fluoroquinolone FQ còn rất hiếm nhưng đang có khuynh hướng gia tăng. Fluoroquinolone tác dụng trên vi khuẩn thông qua cơ chế ức chế tổng hợp DNA. Kháng thuốc xuất hiện bằng cơ chế đột biến các gen gyrA và parC. Ở các trường hợp ngưỡng kháng thấp, đột biến chủ yếu xảy ra ở vị trí parC và các trường hợp này còn nhậy cảm với các fluoroquinolone mới. Trong khi kháng ở mức độ cao có sự tham gia đồng thời đột biến ở cả 2 vị trí gen parC và gyrA. Kháng thông qua cơ chế bơm đẩy cũng có thể xảy ra nhưng ý nghĩa thực của cơ chế còn chưa biết rõ. Tỉ lệ kháng kháng sinh của các chủng vi khuẩn Gram âm. Nhiễm trực khuẩn Gram- như Klebsiella pneumoniae, Escherichia coli và các chủng vi khuẩn khác thuộc nhóm Enterobacteriaceacó vẻ tương đối phổ biến. Trong những năm qua, đã có sự gia tăng kháng thuốc trong số các vi khuẩn gây bệnh nhóm này, bao gồm cả sự hiện diện của các men beta-lactamase phổ rộng ESBL. Những ca kháng thuốc đã được ghi nhận ở nhiễm khuẩn cộng đồng và nhất là trên những người có sử dụng dịch vụ chăm sóc y tế. Nhiễm trùng nhóm này thường kết hợp với tăng tử vong, có rất nhiều dạng kháng thuốc đã được phát hiện trong nhóm trực khuẩn Gram - này. Klebsiella pneumoniae là trực khuẩn Gram âm gây viêm phổi mắc phải tại bệnh viện. Hiện nay, tại Việt Nam đã xuất hiện một trong những vi khuẩn đa kháng thuốc. Sự kháng thuốc của nhóm vi khuẩn này cực kì nguy hiểm bởi vì bản thân loại vi khuẩn này có khả năng sinh được hai loại enzyme β lactamase phổ rộng và carbapenemase. Các enzyme này làm biến đổi, phá hủy cấu trúc hóa học của kháng sinh. β lactamase phổ rộng có khả năng phân giải hầu hết các loại kháng sinh thuộc nhóm β lactam đặc biệt đối với các penicillin và các cephalosporin thế hệ thứ 3. Quan trọng hơn nữa là Klebsiella pneumoniae còn có khả năng sản sinh được carbapenemase phân giải carbapenem như imipenem, meropenem…, trong khi carbapenem được xem như là cứu cánh cuối cùng trong việc lựa chọn kháng sinh để điều trị. Kết quả Phân lập được 35 chủng từ 680 mẫu bệnh phẩm tại Viện Pasteur TP Hồ Chí Minh từ tháng 1-6/2014, kết quả như sau K. pneumoniakháng cao nhất với Ampiciline 94,29%, tiếp đó Trimethoprim/ sulfamethoxazol 79,31%, Cephalexine, Piperacillin 62,86%, Ceftazidime 51,43%, chỉ một tỉ lệ nhỏ kháng lại Colistin, Imipenem, Meropenem 2,86%; 65,71% chủng sinh ESBL và 20% chủng sản xuất carbapenemase. Trực khuẩn mũ xanh Pseudomonas aeruginosa là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây nhiễm khuẩn mắc phải tại bệnh viện. Chúng gây nên những bệnh lí với nhiều mức độ khác nhau như viêm phổi, nhiễm khuẩn vết thương, nhiễm khuẩn huyết nặng với tỉ lệ tử vong khá cao. Tỉ lệ P. aeruginosa gây nhiễm khuẩn bệnh viện đã tăng dần trong những năm gần đây trên thế giới và cả Việt Nam. Cùng với sự gia tăng về tỉ lệ nhiễm khuẩn là sự gia tăng về khả năng kháng kháng sinh, cụ thể kháng với carbapenem. Ở Việt Nam, nghiên cứu ở 36 bệnh viện các tỉnh phía Bắc trong năm 2006 – 2007 bao gồm 2 bệnh viện Trung ương, 17 bệnh viện tuyến tỉnh, 17 bệnh viện tuyến huyện cho thấy 553/7571 7,8% bệnh nhân bị nhiễm trùng mắc phải tại bệnh viện. Có 3 loại nhiễm khuẩn chính viêm phổi 41,9%, nhiễm khuẩn vết mổ 27,5%, nhiễm khuẩn tiêu hóa 13,1%. Căn nguyên chính là Acinetobacter baumannii 23,3% và Pseudomonas aeruginosa 31,5%. Theo kết quả nghiên cứu từ 4 bệnh viện tại Hà Nội Việt Đức, Xanh Pôn, Bệnh viện 108 và Bệnh viện 103 từ năm 2005 – 2008 cho thấy P. aeruginosa phân lập từ các bệnh phẩm đề kháng rất cao với các loại kháng sinh như Tetracycline 92,1%, Ceftriaxone 58,5% và Gentamicin 54%. Acinetobacter là những vi khuẩn Gram âm, đa hình hình cầu khuẩn hoặc cầu trực khuẩn, rất dễ nhầm lẫn với các vi khuẩn thuộc giống Neisseria. Chúng gây những bệnh lí khác nhau với mức độ khác nhau, từ viêm phổi đến nhiễm khuẩn vết thương và nhiễm khuẩn huyết nặng. Tỉ lệ Acinetobacter nhiễm khuẩn bệnh viện đã tăng lên đều đặn trong những năm gần đây trên thế giới. Kết hợp với tỉ lệ nhiễm khuẩn tăng, một tỉ lệ tăng lên của chủng không nhạy cảm kháng sinh, cụ thể carbapenem đặc biệt đáng lo ngại. Hiện nay, Acinetobacter được xem là vi khuẩn hàng đầu gây viêm phổi bệnh viện tại những bệnh viện lớn trong nước và kháng với hầu hết kháng sinh kể cả những kháng sinh phổ rộng mạnh nhất hiện nay. Trong tổng kết của Bộ Y tế năm 2004, phần lớn những kháng sinh sử dụng thường xuyên hiện nay đã bị kháng như ceftriaxone 70%, ceftazidime 64%, ciprofloxacine 55% và Acinetobacter trở thành tác nhân hàng đầu kháng toàn bộ kháng sinh cùng với P. aeruginosa gây rất nhiều khó khăn cho công tác điều trị. Các chủng vi khuẩn đa kháng thuốc hiện nay “ESKAPE”viết tắt của 6 chữ cái đầu tiên của 6 chủng vi khuẩn trong hình minh họa bên dưới là các tác nhân gây nhiễm trùng nặng, kéo dài thời gian nằm viện và tăng chi phí điều trị. 2. Cơ chế đề kháng kháng sinh của vi khuẩn Làm thay đổi đích tác động. Vi khuẩn thay đổi đích tác động của kháng sinh, do đó kháng sinh không còn vị trí để tác động. Ví dụ Acinobacter baumani kháng lại Imipenem và Pseudomonas aeruginosa kháng Ticarcillin và Imipenem do chúng thay đổi vị trí gắn vào protein của các kháng sinh. Cơ chế tác động của các kháng sinh nhóm quinolone là ức chế hoạt động của đoạn gen mã hóa quá trình tổng hợp enzym GyrA ADN gyrase subunit A và ParC topoisomerase IV của tế bào vi khuẩn. Ví dụ tính kháng quinolone của S. typhi xảy ra do đột biến điểm của các đoạn gen mã hóa quá trình tổng hợp enzym GyrA và ParC trên nhiễm sắc thể của vi khuẩn. Tạo ra các enzyme. Enzym được tạo ra làm biến đổi hoặc phá hủy cấu trúc phân tử của kháng sinh. Ví dụ với các enzym beta-lactamase có khả năng phá hủy penicillin được báo cáo trước khi được đưa vào sử dụng vào đầu những năm 1940. Sau đó hàng loạt các enzym beta-lactamase có khả năng ức chế hoặc phân hủy các kháng sinh mạnh như cephalosporin và carbapenem được phát hiện. Hiện nay đã xác định được hơn 890 loại enzym kháng kháng sinh của vi khuẩn, nhiều hơn số lượng các loại kháng sinh đã được sản xuất và phần lớn các gen mã hóa các enzym này nằm trên các plasmid có thể truyền dễ dàng trong quần thể vi khuẩn cùng và khác loài. Làm giảm tính thấm của màng nguyên sinh chất Làm giảm mức độ thấm của kháng sinh qua thành tế bào vi khuẩn trong trường hợp kháng tetracycline hoặc làm mất hệ thống vận chuyển qua màng trong trường hợp kháng kháng sinh nhóm aminoglycosid. Việc thâm nhập của các kháng sinh nhóm beta-lactam được thực hiện qua các kênh vận chuyển porin, vi khuẩn biến đổi làm mất các kênh vận chuyển và làm hạn chế sự tác động của nhóm kháng sinh này. Cơ chế bơm đẩy efflux pump của các kháng sinh nhóm quinolon của vi khuẩn E. colivà P. aeruginosa, thường liên quan đến hệ thống vận chuyển ion qua màng tế bào. Tài liệu tham khảo. 1. Bùi Khắc Hậu và nhóm tác giả 2008, Dịch tễ học phân tử các chủng Pseudomonas aeruginosa đa kháng thuốc nhiễm trùng bệnh viện tại Hà Nội, Báo cáo kết quả nghiên cứu Đề tài cấp Bộ, Đại học Y Hà Nội. 2. Nguyễn Văn Hùng, Nguyễn Thị Tuyết Nga, Vũ Văn Giang, Nguyễn Văn Hà, Trần Quý 2008, Tỉ lệ và các yếu tố liên quan đến nhiễm trùng bệnh viện trong một số bệnh viện ở phía bắc của Việt Nam, 2006-2007, Tạp chí Y học lâm sàng 6. 3. Hoàn Doãn Tĩnh, Vũ Lê Ngọc Lan, Uông Nguyễn Đức Minh, Lí Thành Hữu, Cao Hữu Nghĩa 2014, Tình hình kháng kháng sinh của Pseudomonas aeruginosa phân lập được trên bệnh phẩm tại viện pasteur, TP Hồ Chí Minh. 4. Bùi Thị Mùi, Lê Thị Ánh Hồng, Nguyễn Thanh Liêm 2010, “Tỉ lệ sinh men Beta – lactamaes phổ rộng và tính nhạy cảm kháng sinh của Klebsiella Pneumoniae gây nhiễm khuẩn đường hô hấp trẻ em từ sơ sinh đến 6 tuổi ở Bệnh viện Nhi Trung ương”, Tạp chí Y học dự phòng, 217. 5. Kế hoạch hành động quốc gia về phòng chống kháng thuốc giai đoạn từ năm 2013 đến năm 2020 Phê duyệt kèm theo Quyết định số 2174/QĐ-BYT ngày 21 tháng 6 năm 2013 của Bộ trưởng Bộ Y tế. 6. Nghiên cứu giám sát ANSORP từ 1/2000 đến 6/2001 Song JH & ANSORP. Antimicrobial Agents And Chemotherapy, June 2004, p. 2101–2107. 7. Nghiên cứu KONSAR từ 2005-2007 ở các bệnh viện KoreaYonsei Med J. 2010 Nov;516901-11. 8. Clinical Relevance of the ESKAPE Tình trạng đáng báo động về AMR Kể từ khi ra đời, kháng sinh đã thay đổi hoàn toàn ngành y tế, giúp cứu sống nhiều người trên toàn cầu. Tuy nhiên, chính việc lạm dụng kháng sinh trong các bệnh viện, cộng đồng và nông nghiệp đang dẫn tới tình trạng kháng kháng sinh khiến cho con người phải gánh chịu hậu quả nặng nề. Tổ chức Y tế Thế giới WHO cũng đưa ra cảnh báo tình trạng kháng thuốc kháng sinh ngày càng gia tăng và cũng nguy hiểm như đại dịch Covid-19, thậm chí có nguy cơ đảo ngược những tiến bộ y học trong một thế kỷ. Ước tính mỗi năm, khoảng người tử vong trên toàn cầu vì kháng thuốc kháng sinh. Con số này có thể tăng lên đến 10 triệu người vào năm 2050 nếu thế giới không hành động mạnh mẽ. Điều đó tiếp tục dấy lên hồi chuông cảnh báo về mức độ nguy hiểm của AMR, cần sự chung tay vào cuộc quyết liệt để ngăn chặn. Việt Nam đã thực hiện một số biện pháp để chống lại AMR như Kế hoạch Hành động quốc gia về phòng chống kháng thuốc giai đoạn từ năm 2013 - 2020, Bộ tiêu chí đánh giá bệnh viện an toàn được ban hành vào tháng 7/2020. Chương trình Quản lý sử dụng kháng sinh đã nhận được sự chung tay nỗ lực từ các tổ chức khác nhau, tiêu biểu là Chương trình An ninh Y tế Toàn cầu của CDC. Một chương trình giám sát quốc gia đã được khởi động từ năm 2016 với 16 phòng thí nghiệm vi sinh dưới sự quản lý của CDC. Các chương trình này đóng vai trò quan trọng trong việc giám sát các xu hướng kháng thuốc. Mới đây, dưới sự tài trợ của MSD, Hội đồng kinh doanh vì sự hiểu biết quốc tế BCIU đã tổ chức một diễn đàn cấp cao với chủ đề “Cuộc chiến chống lại kháng kháng sinh ở Việt Nam và Đông Nam Á” với sự tham gia của những chuyên gia đầu ngành tại Việt Nam. Diễn đàn là một cuộc đối thoại mở nhằm thảo luận những thông tin mới nhất về AMR và tìm hiểu các ưu tiên của Chính phủ nhằm ngăn chặn sự tiến triển của AMR. Ngoài ra, những vấn đề khác như cơ hội hợp tác cho các bên liên quan để cùng triển khai giải pháp mới về giám sát, quản lý AMR, tiếp cận và tài trợ… cũng được đưa ra thảo luận. Cam kết hỗ trợ từ MSD Theo các chuyên gia y tế, một trong những giải pháp để đối phó với AMR là phải nghiên cứu phát triển thuốc kháng sinh mới, tuy nhiên có ít các loại kháng sinh mới và tiên tiến được giới thiệu kể từ năm 2010 cho đến nay. Các đánh giá gần đây của Tổ chức Y tế Thế giới WHO và Tổ chức Từ thiện Pew Pew Charitable Trusts cũng chỉ ra rằng các nghiên cứu lâm sàng trên thế giới trong lĩnh vực điều trị vi khuẩn vẫn chưa đủ để chống lại mối đe dọa ngày càng tăng của các bệnh nhiễm trùng kháng thuốc. Trong khi nhiều công ty dược phẩm lớn đã rút khỏi việc phát triển kháng sinh do chật vật với việc thu hồi vốn đầu tư, thì MSD vẫn duy trì cam kết nghiên cứu và phát triển thuốc kháng sinh trong hơn 80 năm qua và đã đưa ra các phương pháp điều trị mới qua mỗi thập kỷ. AMR là một vấn đề phức tạp mà không có giải pháp đơn giản hoặc đơn lẻ nào có thể giải quyết được, nhưng MSD cam kết đầu tư chuyên môn và nguồn lực cùng với các đối tác để cung cấp những loại kháng sinh cần thiết. Theo đại diện MSD, trong 10 năm tới, MSD sẽ đầu tư 100 triệu USD vào Quỹ Hành động AMR vì mục tiêu chung là đưa 2 - 4 loại kháng sinh mới tới bệnh nhân và bác sĩ vào cuối thập kỷ. Ngoài ra, MSD cũng phối hợp với các cơ quan y tế công cộng, các chuyên gia chăm sóc sức khỏe và các công ty chẩn đoán để thông báo về việc sử dụng kháng sinh hợp lý bằng cách chia sẻ dữ liệu giám sát. Một trong những chương trình giám sát AMR lớn nhất - chương trình Giám sát xu hướng đề kháng kháng sinh SMART - đã thu thập được khoảng chủng vi khuẩn phân lập từ 217 địa điểm khác nhau ở 63 quốc gia kể từ năm 2002. Dữ liệu này có thể giúp hạn chế sự phát triển của AMR bằng cách cung cấp các phác đồ điều trị đầy đủ và hướng dẫn kê đơn để bảo đảm kháng sinh được sử dụng một cách hợp lý. Tại Việt Nam, chương trình Quản lý sử dụng kháng sinh AMS của MSD đã được triển khai tại một bệnh viện lớn ở TP. Hồ Chí Minh từ năm 2012 và được mở rộng đến 17 bệnh viện trọng điểm. Năm 2020, MSD cũng đã phối hợp với Bộ Y Tế mở rộng chương trình này tại 36 bệnh viện. Nguồn MSD

kháng kháng sinh ở việt nam