🦙 Mổ Hạch Lao Ở Trẻ Em
Điều trị chung. - Làm thông thoáng hốc mũi: rửa mũi bằng natriclorid 0,9%, hút dịch mũi, xì nhẹ từng bên mũi. - Rỏ mũi bằng các thuốc gây co mạch: ephedrin1-3%, naphtazolin 0,5-1% (không dùng cho trẻ sơ sinh), trong trường hợp này có thể thay thế bằng adrenalin 0,1% pha loãng. - Xông
Lao hạch lympho lao là lao ngoài phổi phổ biến nhất ; tuy nhiên, viêm màng não là đáng sợ nhất vì tỷ lệ tử vong cao ở trẻ nhỏ và người già. Bệnh thể hoạt động Những người khỏe mạnh nhiễm vi khuẩn lao có khoảng 5 đến 10% nguy cơ chuyển thành thể hoạt động, mặc dù tỷ lệ phần trăm thay đổi đáng kể theo tuổi và các yếu tố nguy cơ khác.
Trẻ em dưới 2 tuổi: nếu phản ứng mới chuyển sang dương tính, có giá trị chẩn đoán lao sơ nhiễm. Dương tính mạnh gặp trong lao hạch, lao tản mạn bán cấp và mạn tính. Người nhiễm Mycobacteria không điển hình phản ứng có thể dương tính yếu
25% các trường hợp nhiễm khuẩn đường hô hấp ở trẻ em dưới 5 tuổi.Du lịch Y tế (Medical Tourism) đã hình thành theo bước chân của những người hành hương Hy Lạp từ Địa Trung Hải đến Epidauria nơi thờ thần chữa bệnh.
Do virus viêm gan B gây ban dát sẩn ở da hay bệnh Gianotti và Crosti gặp ở trẻ 2- 6 tuổi, thường gặp ban ở mặt sau lan xuống tay chân. Ban kèm theo hạch ngoại biên to, gan lách to và một biểu hiện viêm gan không vàng da. Toàn trạng nói chung tốt. Bệnh tiến triển 3 tuần.
3. Chẩn Đoán Xác Định: - Tìm được AFB hoặc cấy dương tính trong mủ hạch. - Sinh thiết hạch làm giải phẫu bệnh có nang lao và cấy tìm được vi trùng lao. - FNA hạch thấy được nang lao. II. Điều Trị Lao Hạch: Hiện nay lao hạch được điều trị theo phác đồ của
V/v tăng cường quản lý cán bộ, công chức, viên chức, người lao động ở các cơ quan, đơn vị Kết luận của Trưởng ban Ban Chỉ đạo phòng, chống dịch COVID-19 thị xã tại Hội nghị trực tuyến lúc 17 giờ 00, ngày 11/7/2021
Bệnh Lao do một loại vi khuẩn gây ra có tên khoa học là Mycobacterium Tuberculosis, là một vi khuẩn rất nhỏ không thể nhìn bằng mắt thường, nó tấn công vào cơ thể ở nhiều bộ phận khác nhau như (lao xương, lao hạch, hoặc lao ở não), nhưng thông thường nhất vẫn là phổi, cơ
Viêm hạch nách là một biến chứng thường gặp sau tiêm phòng Vacxin Lao ở trẻ em. Bệnh không nguy hiểm nhưng việc điều trị lại mất nhiều thời gian và gây … => Đọc thêm hạch nách trái ở bé 7 tháng tuổi | Website Bệnh viện nhi đồng 2 17 thg 12, 2013 — Nổi hạch nách trái thông thường là 1 phản ứng của cơ thể sau tiêm phòng lao.
e6sYV. 16/06/2022 1. Hạch là gì? Hạch còn gọi là hạch bạch huyết hay hạch lym pho là một bộ phận của hệ bạch huyết trong cơ thể. Hệ bạch huyết gồm có dịch bạch huyết, mạch bạch huyết, amidal, tuyến ức, lá lách và các hạch lympho. Tổng cộng có trên 600 hạch bạch huyết trong cơ thể. Theo đó, một phần trong số đó nằm bên dưới bề mặt của da, một số khác lại nằm sâu trong khoang ngực, khoang bụng. Ảnh minh họa Nguồn Internet 2. Chức năng của hạch bạch huyết Hạch bạch huyết có vai trò quan trọng trong hệ miễn dịch. Trong dịch bạch huyết có chứa các tế bào bạch cầu và các thứ khác giúp chống lại tình trạng nhiễm trùng. Khi chất dịch này di chuyển qua mạch bạch huyết một mạng lưới tĩnh mạch chạy song song với hệ thống tuần hoàn máu, được lọc bởi các hạch bạch huyết. Bất kỳ một điều gì bất thường, ví dụ như các tác nhân truyền nhiễm hay tế bào ung thư sẽ bị bắt giữ để trung hòa. Ngoài ra, hạch bạch huyết cũng có thể đáp ứng với hiện tượng dị ứng xảy ra trên da hoặc gần mũi, họng và tai. Vì vậy, hạch bạch huyết có thể bị sưng nếu trẻ bị côn trùng cắn hoặc bị sốt. Đây là một phản ứng bình thường của cơ thể. 3. Vị trí của hạch bạch huyết Các hạch bạch huyết nằm khắp cơ thể người, bao gồm Hạch phía ngoài cơ thể sát da Chẩm phía sau đầu, phía trước và sau tai Dưới hàm và dưới cằm, mặt, phía trên xương đòn Cổ tử cung trước và sau Phía trên xương đòn, nách, dưới khuỷu tay Khoeo chân Bẹn ở vùng háng. Hạch bên trong cơ thể Hạch ở vùng ngực trung thất Hạch trong ổ bụng ví dụ hạch mạc treo, vùng sinh dục. Bệnh hạch bạch huyết có thể khu trú hoặc lan rộng. Bệnh hạch bạch huyết toàn thân thường nghiêm trọng hơn và có thể liên quan đến nhiễm virus, rối loạn tự miễn dịch hoặc các bệnh ít phổ biến như ung thư hoặc bệnh lao. 4. Nguyên nhân gây sưng hạch ở trẻ em Nhiều trẻ nhỏ thường bị sưng các hạch do bị nhiễm trùng vùng tổ chức lân cận, dẫn đến phản ứng ở các hạch gần vị trí nhiễm trùng nhất. Nguyên nhân gây sưng hạch có thể là Nhiễm trùng đường hô hấp trên, bao gồm cảm lạnh và cúm Viêm họng nhiễm khuẩn. Trẻ bị sâu răng Viêm hạch bạch huyết, trong đó một hạch bạch huyết bị nhiễm trùng Bệnh bạch cầu đơn nhân truyền nhiễm, gây ra bởi virus Epstein-Barr HIV, trong đó bệnh hạch bạch huyết là triệu chứng phổ biến của nhiễm trùng sớm Bệnh lý ung thư Bệnh do mèo cào, do vi khuẩn Bartonella henselae gây ra Do côn trùng cắn như Ricketsia sốt mò Hạch do lao hạch phản ứng do tiêm phòng lao và bệnh lao Lao hạch – viêm hạch do vi khuẩn lao. Bệnh Kawasaki Lupus ban đỏ bệnh tự miễn. 5. Triệu chứng sưng hạch bạch huyết ở trẻ em Hạch bạch huyết xuất hiện khi cơ thể trẻ đang chống lại tình trạng nhiễm trùng, lúc này các hạch sẽ sưng lên. Trẻ em chính là đối tượng thường xuyên tiếp xúc với các dị nguyên, các bệnh nhiễm trùng mới mắc, bởi vậy hạch bạch huyết của trẻ thường to hơn người lớn. Những dấu hiệu này cho thấy hệ thống miễn dịch của trẻ đang hoạt động tốt trong việc chống lại các bệnh nhiễm trùng, do đó cha mẹ trẻ không cần phải lo lắng quá nhiều nếu thấy trẻ nổi hạch bạch huyết. Trên thực tế, hạch vùng cổ của trẻ có thể sờ thấy, thậm chí ngay cả khi trẻ khỏe mạnh. Nếu hạch có kích thước nhỏ hơn 2cm, không đau, di động, không sưng nóng, có thể thấy 1 hoặc vài hạch liên tiếp nhau nhưng không dính vào nhau và trẻ không có biểu hiện gì khác thì phần lớn là hạch bình thường, có thể có một số hạch đặc biệt là ở vùng cổ, nách và bẹn. Nếu phát hiện trẻ có hạch kèm theo một số triệu chứng khác như sốt kéo dài không rõ nguyên nhân, trẻ bị sụt cân, mệt mỏi và đổ mồ hôi về đêm có thể là dấu hiệu của một bệnh lý nào đó cần được bác sĩ khám và tư vấn. 6. Chẩn đoán Sưng hạch ở trẻ thường được phát hiện bởi gia đình. Tuy nhiên, cần có sự đánh giá của bác sĩ nhi khoa để xác định tình trạng hạch kích thước, vị trí, tính đồng nhất mềm, chắc hoặc cao su, sưng đỏ đau, di động hay không, để tư vấn cho gia đình trẻ hoặc có kế hoạch điều trị phù hợp. Hạch vùng cổ, nách và bẹn là những nơi dễ sờ thấy nhất. Sưng hạch vùng này thấy ở gần một nửa số trẻ em từ 3-5 tuổi hoàn toàn khỏe mạnh. Một số các cận lâm sàng có thể được chỉ định ở trẻ bị sưng hạch Siêu âm để đánh giá vị trí, hình dạng, kích thước và cấu trúc của hạch. Sinh thiết, chọc hút kim nhỏ trong một số trường hợp cần thiết. Một số các xét nghiệm thăm dò khác để tìm nguyên nhân liên quan đến sưng hạch, ví dụ Xét nghiệm máu, nước tiểu, chẩn đoán hình ảnh …tùy thuộc vào các biểu hiện khác đi kèm sưng hạch. 7. Trẻ cần đến cơ sở y tế khi nào? Khi có các dấu hiệu sau Trẻ nổi hạch toàn thân. Hạch có kích thước lớn hơn 25mm. Hạch vẫn to và tồn tại sau điều trị. Hạch sưng to lan sang các vị trí khác trên cơ thể. Các hạch sưng có tính chất cứng, không đau và không di động. Trẻ bị sụt cân không giải thích được hoặc trẻ bị đổ mồ hôi đêm. Hạch vùng cổ sưng to gây khó thở, khó nuốt. Vùng da chỗ hạch sưng đỏ. Trẻ kêu đau ở vùng hạch sưng. Trẻ bị đau họng. Trẻ dưới 1 tháng tuổi. Hạch sưng to ở nhiều nơi. Không có lý do giải thích cho tình trạng hạch sưng to. 8. Điều trị sưng hạch ở trẻ em như thế nào? Điều trị theo nguyên nhân tùy theo nguyên nhân gây sưng hạch mà trẻ được xử trí theo các phác đồ phù hợp, ví dụ sưng hạch do nhiễm khuẩn cần sử dụng kháng sinh, sưng hạch do nhiễm vi rút chỉ cần điều trị triệu chứng. Nếu sưng hạch phản ứng do tiêm phòng lao, hầu hết chỉ theo dõi mà không cần phải điều trị, trừ khi hạch to có biểu hiện apxe hóa. Nếu sưng hạch do viêm nhiễm thực sự, khi đó hạch to, da vùng hạch đỏ và đau nhiều, có thể trẻ cần được dùng kháng sinh và dẫn lưu nhiễm trùng. Việc sử dụng thuốc hạ sốt Paracetamol hoặc Ibuprofen là cần thiết khi trẻ sốt trên 38,5oC hoặc đau. Chú ý tránh sờ, nắn hạch thường xuyên, làm cho hạch không thể nhỏ lại như bình thường. Thông thường, kích thước hạch sẽ trở lại bình thường một cách chậm chạp từ 2 – 4 tuần sau điều trị, có thể sẽ không biến mất hoàn toàn. Cha mẹ thường lo lắng khi phát hiện sưng hạch ở trẻ. Thực tế, sưng hạch không phải là một tình trạng quá nguy hiểm nhưng cũng không vì thế mà chủ quan không cho trẻ đi khám. Để kiểm soát tốt hơn, cha mẹ chú ý theo dõi hoặc đưa trẻ đi khám để tìm ra nguyên nhân gây sưng hạch và có biện pháp xử lý thích hợp nhất. Tuyệt đối không tự ý cho trẻ sử dụng thuốc khi chưa có chỉ dẫn của bác sĩ chuyên khoa. Khi phát hiện thấy trẻ bị sưng hạch, cha mẹ hoặc người giám hộ có thể đưa trẻ đi khám tại các đơn vị sau, để được đến khám và tư vấn về tình trạng sưng hạch Khoa khám bệnh đa khoa Khoa khám bệnh chuyên khoa Trung tâm Quốc tế BSCKII. Nguyễn Thị Thu Hằng – Khoa Khám bệnh Đa khoa Bệnh viện Nhi Trung ương
Không nguy hiểm và lây nhiễm như lao phổi, bệnh lao hạch không gây tử vong và có thể được chữa khỏi. Tuy nhiên đây là căn bệnh khá phổ biến, bệnh cũng kéo dài và gây ra nhiều bất tiện trong sinh hoạt. 1. Lao phổi là bệnh gì? Lao phổi là một bệnh truyền nhiễm do vi trùng lao thâm nhập vào phổi và sinh sôi. Trong các loại lao thì lao phổi là bệnh thường gặp nhất chiếm 80 – 85%, và là nguồn lây chính cho cộng Triệu chứngHo là triệu chứng đầu tiên và quan trọng của bệnh lao phổi. Người bệnh có thể ho khan, ho có đờm, ho ra máu. Triệu chứng ho có thể kéo dài hơn 3 thở, đau thấy mệt sốt nhẹ, thấy ớn lạnh về đổ mồ hôi trộm về cân do chán ăn, ăn không ngon. Ho là triệu chứng đầu tiên của bệnh lao phổi Bệnh lao phổi có lây không?Lao phổi là một bệnh rất dễ lây truyền giữa người sang người thông qua đường hô người bị bệnh lao phổi, hoặc lao thanh quản, phế quản, khi ho sẽ khạc ra vi khuẩn lao có trong những hạt nước bọt li ti, hoặc các hạt bụi nhỏ. Những người tiếp xúc với bệnh nhân lao sẽ dễ dàng hít vào và gây bệnh tại ra, môi trường sống hay ẩm ướt và ô nhiễm khói bụi, sẽ tạo điều kiện để vi khuẩn lao có thể phát triển và gây ăn uống, nếu sử dụng nguồn thực phẩm có chứa vi khuẩn lao cũng rất có thể bị nhiễm lao. Tiếp xúc chất thải chứa vi khuẩn lao cũng khiến con người bị lây Chẩn đoán bệnh lao phổi như thế nào?Căn cứ trên các triệu chứng của bệnh nêu trên như sốt nhẹ về chiều, đổ mồ hôi trộm đêm, mệt mỏi, chán ăn, sụt cân, bác sĩ sẽ đồng thời khám phổi và toàn thân, có thể chỉ định một số xét nghiệm nhưChụp X-quang nghiệm Xpert MTB/RIF nếu có thể.Nhuộm soi đờm trực tiếp để tìm cấy tìm vi khuẩn chẩn đoán xác định bệnh lao phổi, cần có ít nhất 1 mẫu có AFB+ và hình ảnh X-quang nghi lao hoặc khi có 2 mẫu đờm +. Chụp X-quang phổi dùng trong chẩn đoán bệnh lao phổi Điều trị bệnh lao phổiBệnh nhân lao phổi cần tuân thủ theo phác đồ điều trị, uống thuốc đầy đủ và đúng liều lượng, đặc biệt không được tự ý ngưng sử dụng thuốc khi các triệu chứng bệnh biến lao phổi nếu không được điều trị kịp thời có thể dẫn đến một số biến chứng như tràn dịch màng phổi, tràn khí màng phổi, ho ra bệnh sau khi được chữa khỏi vẫn có thể gặp một số di chứng như suy hô hấp mãn, giãn phế quản, u nấm phổi, tràn khí màng phổi... Phòng ngừa bệnh lao phổiLao phổi là một bệnh truyền nhiễm, do đó, để phòng bệnh lây lan, có thể áp dụng một số biện pháp sauTiêm vacxin BCG cho trẻ để phòng bệnh ra ngoài hoặc tiếp xúc với người bệnh nên sử dụng khẩu xuyên rửa tay sạch sẽ, trước và sau khi miệng khi hắt dùng chung đồ và vật dụng cá nhân với người bị bệnh lao phổi cần tránh lây nhiễm cho những người xung quanh bằng cách đeo khẩu trang, khi ho hoặc hắt hơi phải che miệng, không ngủ chung phòng, không đến những nơi có đông người, khi khạc đờm phải khác vào một nơi quy định, đờm hoặc các vật chứa nguồn lây bệnh phải được hủy đúng phương xuyên vệ sinh sạch sẽ nơi ở và nơi làm việc, nơi người bệnh lao phổi sống nên có nhiều ánh nắng mặt dựng chế độ ăn uống khoa học, hợp lý, sinh hoạt lành mạnh, nghỉ ngơi đầy đủ, thường xuyên tập luyện thể dục thể thao, tránh sử dụng các chất gây nghiện như rượu, bia, thuốc lá, khám sức khỏe theo định kỳ để phòng bệnh lao. 2. Lao hạch là gì? Lao hạch là bệnh thứ phát, xuất hiện sau bệnh lao ở nơi khác trong cơ thể, như lao sơ nhiễm hoặc lao phổi. Vi trùng lao sau khi vào phổi, gây tổn thương ở đây lao phổi rồi di chuyển tới hạch và ra gây lao Triệu chứngHạch sưng to, thành từng chùm, từng chuỗi ở một vùng, nhiều nhất là ở sưng không đồng đều, không đau và không dính. Bề mặt da vùng nổi hạch nhẵn, sưng to như không nóng và không tấy sưng to dần dần về mặt kích thước, khi to thì mềm ra, lúc đó hạch có thể vỡ và chảy mủ, trông giống như bã đậu, khó liền sẹo, hay rò. Nếu thành sẹo thì sẹo bị co kéo, có hình dúm dó, miệng sẹo tím như quả bồ bị lao hạch, người bệnh có thể thấy mệt mỏi và sốt nhẹ. Trừ trường bị bội nhiễm hoặc có kèm theo tổn thương lao ở các cơ quan khác như phổi, xương, ... thì bệnh sẽ có triệu chứng nặng nề Bệnh lao hạch có lây không?Không giống như lao phổi, vi khuẩn lao chỉ khu trú trong hạch gây viêm và không rò rỉ ra bên ngoài, do đó, bệnh lao hạch không lây truyền trực tiếp từ người sang người. Lao hạch chủ yếu ở vùng cổ Chẩn đoán bệnh lao hạch như thế nào?Chẩn đoán xác định bệnh lao hạch dựa vào các biểu hiện lâm sàng và một số xét nghiệm nhưChọc hạch để làm xét nghiệm tế thiết hạch nhằm chẩn đoán mô X-quang khi chẩn đoán xác định, tiến hành chẩn đoán phân biệt để phân loại hạch laoViêm hạch do nhiễm khuẩn sẽ có biểu hiện sưng đỏ, nóng, hạch có mật độ mềm, sờ vào hạch thấy đau, và đáp ứng với điều trị kháng biệt bệnh Hodgkin và Non-Hodgkin bằng cách sinh thiết hạch và làm tủy di căn ung thư sẽ có biểu hiện lâm sàng của ung thư nguyên phát, tiến hành sinh thiết u hạch lành tính như u mỡ, u xơ, u thần kinh, u nang bạch huyết,... Bệnh lao hạch có chữa khỏi không?Bệnh lao hạch có thể được điều trị nội khoa dưới sự hướng dẫn của bác sĩ và thầy thuốc chuyên khoa. Uống thuốc điều trị lao hạch như rifampicin, rimifon, pyrazinamid, ethambutol... liên tục trong khoảng 9 tháng là tối thiểu. Liều dùng tùy thuộc vào cân nặng và tuân theo phác đồ điều trị do bác sĩ chuyên khoa quyết lao hạch có phải mổ không cũng là thắc mắc của nhiều người. Bệnh lao hạch được điều trị ngoại khoa, phẫu thuật - mổ lấy toàn bộ hạch khi hạch hóa mủ nhưng lại không đáp ứng khi chọc dò và điều trị kết hợp với kháng sinh, hoặc là bị u lympho lao hạch, lao không thành mủ, khu trú. Mổ và nạo vét sạch mủ bã đậu ở hạch và đắp kháng sinh chống lao cũng là cách điều trị có hiệu hạch là bệnh cũng rất dễ gặp ở trẻ em. Khi điều trị cần lưu ý không nên cắt bỏ hạch sớm vì hạch có vai trò bảo vệ chống sự xâm nhập của vi trùng lao. Chăm sóc trẻ cần tránh để tình trạng viêm hạch mạn trị lao hạch tốt nhất là nên điều trị bệnh lao trước khi phẫu thuật để tránh lây lan vi khuẩn Phòng ngừa bệnh lao hạchDo lao hạch không phải là bệnh lây nhiễm nên cách phòng bệnh lao hạch chủ yếu là cần tuân thủ điều trị theo chỉ định của bác sĩ chuyên khoa để điều trị dứt điểm bệnh lao, tránh tình trạng vi khuẩn lao xâm nhập và gây bệnh ở những cơ quan khác trong cơ tương tự như nhiều bệnh khác, tăng cường và nâng cao sức đề kháng của cơ thể, có chế độ ăn uống khoa học và đầy đủ chất dinh dưỡng, nghỉ ngơi hợp lý, đặc biệt là trẻ em là một trong những cách phòng bệnh tốt nhất. Để đặt lịch khám tại viện, Quý khách vui lòng bấm số HOTLINE hoặc đặt lịch trực tiếp TẠI ĐÂY. Tải và đặt lịch khám tự động trên ứng dụng MyVinmec để quản lý, theo dõi lịch và đặt hẹn mọi lúc mọi nơi ngay trên ứng dụng. Các loại vắc-xin cho trẻ em đang có mặt ở Vinmec XEM THÊM Khi nghi ngờ lao hạch cần làm những phương pháp chẩn đoán nào? Ung thư thanh quản Nguyên nhân, triệu chứng, chẩn đoán và điều trị Các tác nhân gây ung thư vòm họng
Hiện nay, chẩn đoán bệnh lao ở trẻ em còn gặp nhiều khó khăn do triệu chứng không đặc trưng và các xét nghiệm cận lâm sàng phát hiện vi khuẩn lao với tỷ lệ thấp. Điều trị trẻ bị bệnh lao cần được tiến hành đúng phác đồ điều trị và càng sớm càng tốt. 1. Tổng quan về bệnh lao ở trẻ em Lao ở trẻ em không phải là một bệnh hiếm gặp trên lâm sàng. Số ca trẻ bị bệnh lao mỗi năm chiếm khoảng 15% tổng số các ca mới. Trẻ bị bệnh lao có thể có biểu hiện của mọi thể lao tương tự như ở người lớn, tuy nhiên phổ biến nhất là lao sơ nhiễm, lao phổi, lao màng phổi, lao màng não cấp tính và một số thể lao ngoài phổi như lao xương, lao màng bụng, lao hạch, lao ruột ... Mỗi thể lao có những biểu hiện lâm sàng khác nhau, xảy ra ở những độ tuổi khác nhau, mức độ nặng thay đổi phụ thuộc vào cơ địa của trẻ bị bệnh lao, đáp ứng điều trị và lượng vi khuẩn gây đối tượng dễ mắc bệnh là các trẻ nhỏ chưa tiêm vắc-xin phòng bệnh lao. Tần suất mắc bệnh lao ở trẻ em giảm dần theo tuổi nhờ đáp ứng miễn dịch tạo ra sau khi tiêm phòng đầy đủ. Cần ghi nhớ rằng, cơ thể trẻ cần có thời gian đáp ứng để sản xuất kháng thể bảo vệ, vì thế sau khi cho trẻ tiêm phòng, phụ huynh không được chủ quan và cần bảo vệ trẻ khỏi những yếu tố nguy cơ hay nguồn lây nhiễm bệnh lao. Vắc-xin tiêm phòng bệnh lao BCG Triệu chứng lâm sàng thường thấy khi trẻ bị bệnh lao là sốt và ho kéo dài trên 10 ngày, ăn uống kém, sụt cân, dễ quấy khóc và một số biểu hiện đặc trưng có từng cơ quan bị ảnh hưởng. Vì biểu hiện tương tự như những bệnh lý khác, phụ huynh thường chủ quan, tự ý điều trị tại nhà khiến việc nhận diện và điều trị bệnh lao bị chậm trễ cũng như tăng tỷ lệ lây nhiễm cho cộng đồng. Trẻ bị bệnh lao trên 5 tuổi có khả năng lây nhiễm cao hơn vì thực hiện được các động tác khạc nhổ, giải phóng vi khuẩn ra môi trường bên ngoài. Bệnh lao ở trẻ em nếu không được điều trị sớm có thể dẫn đến nhiều biến chứng nặng nề cho trẻ như biến dạng cột sống, điếc, mù, động kinh, liệt hay thậm chí tử vong, tùy theo từng thể lao và biến chứng của nó. Bệnh lao ở trẻ em là bệnh có thể dự phòng được và tiêm vắc-xin phòng bệnh lao là biện pháp phòng bệnh chủ động có hiệu quả nhất. 2. Một số thể lao ở trẻ em Lao sơ nhiễmĐây là thể lao thường gặp nhất, nhất là ở nhóm các trẻ dưới 5 tuổi và không được tiêm vắc-xin phòng bệnh lao. Lao sơ nhiễm thường không biểu hiện triệu chứng lâm sàng hoặc chỉ có các dấu hiệu thoáng qua như sốt nhẹ kèm mệt mỏi. Biểu hiện lâm sàng mơ hồ khiến lao sơ nhiễm tuy phổ biến trong cộng đồng nhưng rất dễ bị bỏ sót. Tiền sử tiêm chủng không đầy đủ là dấu hiệu gợi ý rất có giá trị, giúp phát hiện bệnh lao ở trẻ trong nhiều trường hợp. Một số trẻ bị bệnh lao sơ nhiễm có thể tự khỏi nếu sức đề kháng tốt. Lao sơ nhiễm thường xảy ra ở nhóm trẻ dưới 5 tuổi Lao màng nãoĐây là một thể lao cấp tính nặng nề, tiến triển từ lao sơ nhiễm khi vi khuẩn lao lan tràn theo đường máu đến hệ thần kinh trung ương. Biến chứng của lao màng não thường nghiêm trọng và tồn tại kéo dài trong suốt phần đời còn lại của trẻ như động kinh, kiệt, chậm phát triển trí tuệ, thậm chí có thể tử vong. Trẻ bị lao màng não có các triệu chứng rầm rộ, xuất hiện sau khi mắc lao sơ nhiễm khoảng vài ngày đến vài tháng, bao gồm sốt cao, nhức đầu, cứng cổ, có giật, rối loạn vận nhãn, co giật, động kinh ...Lao phổiCùng với lao màng phổi, đây là thể lao đường hô hấp thường gặp ở nhóm trẻ lớn hơn 5 tuổi, nhất là những trẻ đang ở trong giai đoạn dậy thì. Trẻ bị bệnh lao phổi có thể thứ phát sau lao sơ nhiễm hoặc lây trực tiếp do tiếp xúc với những người thân trong gia đình mắc bệnh lao. Lao phổi sau lao sơ nhiễm thường mất nhiều tháng mới xuất hiện triệu chứng. Biểu hiện lâm sàng của lao phổi ở trẻ có nhiều điểm tương đồng với bệnh lao ở người lớn như sốt nhẹ về chiều, sụt cân, ho đờm kéo dài có thể có máu, tức ngực. Quy trình chẩn đoán bệnh lao phổi ở trẻ em được thực hiện bằng việc kết hợp giữa các phương tiện chẩn đoán hình ảnh và xét nghiệm tìm vi khuẩn lao trong đàm hoặc dịch dạ dày trong 3 mẫu được lấy cách nhau ít nhất 1 ngày bằng soi tươi và nuôi cấy tìm vi ngoài phổiĐây là biến chứng thường xảy ra muộn nhất sau lao sơ nhiễm. Lao ngoài phổi rất đa dạng với nhiều thể khác nhau như lao cột sống, lao hạch, lao màng bụng, lao tiết niệu, lao ruột ... Trẻ có thể mắc cùng lúc nhiều thể lao ngoài phổi khác nhau hoặc đồng mắc lao phổi và lao ngoài phổi. Triệu chứng lâm sàng phong phú tùy thuộc vào cơ quan bị ảnh hưởng. Đau và biến dạng cột sống gặp trong lao cột sống. Sưng đau tinh hoàn và tiểu máu gặp trong lao cột sống. Sưng hạch nhiều vị trí trong cơ thể có ở lao hạch. Lao cột sống khiến người bệnh bị chấn thương và cong vẹo cột sống 3. Dấu hiệu nhận biết trẻ bị bệnh lao Triệu chứng lâm sàng ở trẻ bị bệnh lao thường rất phong phú và biến thiên. Trẻ bị bệnh lao có thể có những biểu hiện rõ, rầm rộ trong những thể lao cấp tính như lao màng não và lao kê. Ngược lại trẻ mắc lao sơ nhiễm lại có những biểu hiện lâm sàng rất mơ hồ hoặc thậm chí không có bất kỳ dấu hiệu gợi ý nào. Lao phổi và lao màng phổi có các biểu hiện gợi ý liên quan đến các tổn thương tại đường hô hấp như ho, khạc đờm máu, tức ngực, khó thể lao ngoài đường hô hấp có những biểu hiện khác nhau tùy từng cơ quan bị ảnh hưởng. Tóm lại, triệu chứng lâm sàng của bệnh lao đa dạng nhưng không đặc hiệu, và rất dễ nhầm với các bệnh lý khác. Việc tiêm phòng không đầy đủ và tiền sử có tiếp xúc với những người nghi mắc bệnh lao hoặc bị bệnh lao là những yếu tố có tính chất gợi ý và định hướng có giá trị trong việc nhận diện và chẩn đoán bệnh lao ở trẻ em. 4. Chẩn đoán lao ở trẻ em Chẩn đoán chính xác các trường hợp trẻ bị bệnh lao cần dựa vào các xét nghiệm cận lâm sàng thay vì các biểu hiện lâm sàng của bệnh không đặc trưng, dễ nhầm lẫn với các bệnh lý khác. Mẫu bệnh phẩm từ đàm, dịch tiết hô hấp hoặc dịch dạ dày hay những bệnh phẩm từ các cơ quan nghi ngờ khác được đem đi soi tươi và nuôi cấy tìm vi khuẩn lao. Mẫu bệnh phẩm phải được lấy đủ 3 lần ở 3 ngày khác nhau liên tục. Khi xét nghiệm dương tính, chẩn đoán bệnh lao ở trẻ em được xác định. Xét nghiệm bệnh phẩm chẩn đoán lao ở trẻ Tỷ lệ tìm thấy vi khuẩn lao khi thực hiện xét nghiệm không cao. Chụp phim XQ phổi được chỉ định khi nghi ngờ trẻ mắc thể lao phổi hoặc lao màng phổi. Các tổn thương của bệnh lao trên phim chụp phổi có thể bao gồm các tổn thương dạng nốt, đám thâm nhiễm, các hang ở đỉnh phổi và các tổn thương tại màng phổi. 5. Các phương pháp điều trị bệnh lao ở trẻ em Nguyên tắc điều trị bệnh lao ở trẻ em tương tự như việc điều trị bệnh lao ở người lớn. Phác đồ điều trị phối hợp giữa các thuốc kháng lao trong thời gian dài chiếm vai trò chính. Thời gian điều trị để đạt hiệu quả kéo dài khoảng 6 đến 9 tháng liên tục. Thuốc uống phải được sử dụng đúng liều và tuân thủ theo phác đồ của bác sĩ. Hiệu quả của việc điều trị bệnh lao ở trẻ em phụ thuộc nhiều vào giai đoạn bệnh. Bệnh lao ở trẻ em được phát hiện sớm, khi chưa có biến chứng hoặc chưa lây lan đến các hệ cơ quan khác có tiên lượng tốt nhi tại hệ thống Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec là địa chỉ tiếp nhận và thăm khám các bệnh lý mà trẻ sơ sinh cũng như trẻ nhỏ dễ mắc phải sốt virus, sốt vi khuẩn, viêm tai giữa, viêm phổi ở trẻ,... Với trang thiết bị hiện đại, không gian vô trùng, giảm thiểu tối đa tác động cũng như nguy cơ lây lan bệnh. Cùng với đó là sự tận tâm từ các bác sĩ giàu kinh nghiệm chuyên môn với các bệnh nhi, giúp việc thăm khám không còn là nỗi trăn trở của các bậc cha hàng có thể trực tiếp đến hệ thống Y tế Vinmec trên toàn quốc để thăm khám hoặc liên hệ hotline TẠI ĐÂY để được hỗ đề xuất Vì sao cần tiêm phòng Lao cho trẻ sơ sinh XEM THÊM Bệnh lao kháng thuốc có chữa được không? Lao kháng thuốc xảy ra khi nào và có nguy hiểm? Lao phổi đã điều trị khỏi có thể tái phát không?
mổ hạch lao ở trẻ em